Danh nhân đất Quảng tuổi Sửu

20:02 10/02/2021

(NQPN) Hoàng Diệu (1829 - 1882) xuất thân trong một gia đình khoa bảng hàng đầu của Quảng Nam, đã hy sinh khi chiến đấu bảo vệ thành Hà Nội. Ra đi, tài sản quý báu nhất ông để lại cho đời sau là khí phách và lòng yêu nước tuyệt vời của một nho sĩ cùng với thanh gươm mà ông mang theo khi vào tự vẫn ở Võ Miếu!

Tổng đốc Hoàng Diệu.

Huynh đệ đồng khoa

Khoa thi Hương năm 1848 tại trường thi Thừa Thiên, Tham tri Bộ Binh là Hoàng Tế Mỹ làm Chánh chủ khảo, Biện lý Bộ Lễ là Phan Huy Thực làm Phó chủ khảo. Có hai học trò người Quảng Nam dự thi và cùng đỗ Cử nhân.

Khi xem lại bài thi của các thí sinh thi đỗ, hai vị Chánh, Phó chủ khảo vô cùng bối rối vì hai bài thi có nhiều luận điểm giống nhau, lại là bài thi của hai anh em ruột. Sợ quá, hai vị bèn trình lên Bộ Lễ và tâu lên vua Tự Đức. Thấy vậy, nhà vua cho tổ chức phúc khảo, sát hạch riêng từng người, mỗi người ngồi một phòng riêng ở Tả vu và Hữu vu trong điện Cần chánh (Đại nội Huế).

Sau khi xét duyệt bài phúc khảo, nhà vua phê: “Văn hành công khí, quý đắc chân tài; huynh đệ đồng khoa, thành vi mỹ sự”. Nghĩa là “sự hành văn là việc chung, cốt để chọn nhân tài, hai anh em cùng đỗ một khoa đó là điều tốt đẹp”. Hội đồng Giám khảo vui mừng, thở phào nhẹ nhõm. Thời đó, thi cử rất nghiêm ngặt, không khéo bị vạ oan.

Hai anh em ruột người Quảng Nam cùng đỗ Cử nhân khoa thi đó một người tên là Hoàng Kim Giám, 22 tuổi; một người tên là Hoàng Kim Tích, tức Hoàng Diệu, 19 tuổi, quê ở làng Xuân Đài, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau này người em tiếp tục đi thi và đỗ Phó bảng vào khoa thi Hội khoa Quý Sửu (1853).

May cho anh em nhà họ Hoàng, gặp được một hội đồng giám khảo tài năng, dũng cảm và nhất là một ông vua hay chữ lại rất công tâm trong việc thi cử.

Gia đình khoa bảng hàng đầu

Tộc Hoàng ở làng Xuân Đài, Điện Bàn (nay là làng Xuân Đài, xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn) là một trong những gia tộc khoa bảng hàng đầu của “đất học” Quảng Nam, với 1 phó bảng và 5 cử nhân. Chủ nhân của gia đình này là cụ Hoàng Văn Cự và bà Phạm Thị Khuê. Tuy xuất thân là một hương chức, làm ruộng nhưng các con cụ có nhiều người đỗ đạt. Trong số 7 người con trai thì một người mất sớm, sáu người còn lại đều đỗ đạt gồm một phó bảng, ba cử nhân và hai tú tài.

Hai người con lớn của cụ là Hoàng Kim Giám và Hoàng Kim Tích (sau đổi thành Hoàng Diệu) đều đỗ Cử nhân trong khoa thi năm 1848. Hoàng Kim Giám không ra làm quan ở nhà dạy học, phụng dưỡng mẹ già và nuôi các em ăn học. Hoàng Diệu (Hoàng Kim Tích), sau đó đỗ Phó bảng (khoa thi năm Quý Sửu - 1853) và trở thành một danh sĩ hàng đầu của đất Quảng, người đã hy sinh để giữ thành Hà Nội, năm 1882.

Hai người em đỗ Cử nhân sau đó là Hoàng Kim Bảng và Hoàng Vỹ (Hoàng Chấn). Hoàng Kim Bảng đỗ Cử nhân năm 1861 từng giữ chức Đốc học Quảng Ngãi, Án sát Quảng Bình, Hà Tĩnh; còn Hoàng Vỹ đỗ Cử nhân năm 1870 làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Năm 1882, khi Hoàng Diệu tuẫn tiết ở Hà Nội, Hoàng Vỹ đưa linh cữu anh về quê an táng, sau đó xin ở nhà phụng dưỡng mẹ già. Một thời gian ông được cử giữ chức Đốc học Quảng Nam. Ông bị bức tử năm 1916 sau cuộc khởi nghĩa bất thành của vua Duy Tân.

Đến đời thứ hai, hai người con của Hoàng Kim Bảng đều đỗ Cử nhân, Hoàng Đống, đỗ khoa Đinh Dậu - 1897 và Hoàng Dương, đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ - 1906, đó là chưa kể một người cháu rễ cũng đỗ Phó bảng (Phan Trân, cha Phan Khôi, rễ Hoàng Diệu, đỗ Phó bảng khoa Ất Mùi - 1895). 

Sang thời Tây học, tộc Hoàng cũng có nhiều người đỗ đạt và thành danh. Cháu nội Hoàng Kim Bảng (gọi Hoàng Diệu là “ông nội bác”) đều là những Giáo sư đầu ngành rất nổi tiếng như Hoàng Phê (Ngôn ngữ học), Hoàng Quý (Vật lí học), Hoàng Kiệt (Mỹ thuật), Hoàng Tụy, Hoàng Chúng (Toán học).

Thanh gươm để lại

Hoàng Diệu có tên chữ là Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu (5.3.1829) tại làng Xuân Đài, phủ Điện Bàn.

Sau khi thi đỗ Phó bảng năm 1853, ông được giữ lại làm việc tại Viện Hàn lâm một thời gian ngắn.

Ông từng trải qua các chức vụ: Tri huyện (Hương Trà, Thừa Thiên); Tri phủ (Tuy Phước, Tuy Viễn, Bình Định và Đa Phúc - Phúc Yên), Án sát (Nam Định), Bố chánh (Bắc Ninh), Tham tri (Bộ Hình, Bộ Lại), Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình).

Hoàng Diệu cũng từng được vua Tự Đức trao cờ tiết “tiền trảm hậu tấu” cử làm Khâm sai đại thần về cứu lụt, cứu đói ở Quảng Nam năm 1878 và Phó sứ trong phái đoàn đàm phán với Tây Ban Nha để ký một hiệp ước về thương mại vào năm 1879.

Năm 1880, Hoàng Diệu nhận chức Tổng đốc Hà Ninh nơi được xem là “đầu sóng ngọn gió”, giữa lúc dã tâm của Pháp muốn đẩy mạnh xâm lăng nước ta, thôn tính tiếp Bắc kỳ, để xâm nhập vào thị trường miền Nam Trung Quốc, còn triều đình Huế thì nhu nhược tiến thoái lưỡng nan. Trước khi ra nhậm chức ông về quê thăm mẹ, có ghé làng Đông Bàn thăm Phạm Phú Thứ, lúc này đang về nghỉ dưỡng ở quê. Hai ông đã đàm đạo về thời thế suốt một buổi sáng. Trước khi chia tay hai vị quan đầu triều đã vái lạy tạ từ nhau. Là hai người hiểu rõ thời thế hơn ai hết, cử chỉ ấy sau này được xem như lời chào… vĩnh biệt!

Đến Hà Nội, ông vỗ an dân chúng, tập trung bố phòng chống giặc; việc làm này được thân sĩ Hà Nội ủng hộ nhưng lại bị triều đình quở trách.

Ngày mồng 8 tháng 3 (25.4.1882), Henri Rivière gửi tối hậu thư buộc phải giao thành. Trước thái độ ngang ngược của giặc, ông cho người đi thương lượng nhưng lại chuẩn bị để quyết chiến. Không đợi trả lời, Henri Rivière ra lệnh công phá thành. Ông chỉ huy quân sĩ chống trả đến phút cuối cùng. Tướng sĩ dưới trướng lớp bị thương vong, lớp bỏ trốn theo giặc, ông chạy vào Võ Miếu cùng với mười lính hầu, trong tay chỉ còn một thanh gươm. Hoàng Diệu viết biểu tạ tội dâng về triều rồi lấy khăn buộc lên một cây táo thắt cổ tự vẫn để khỏi rơi vào tay giặc.

Lăng mộ của ông ở làng Xuân Đài, xã Điện Quang, TX Điện Bàn đã nhiều lần được trùng tu đã trở thành Di tích Văn hóa lịch sử Quốc gia.

Nghe tin Hoàng Diệu tuẫn tiết, đông đảo sĩ phu, nhân dân Hà Nội rất thương tiếc và ngày hôm sau đã đưa thi hài ông về mai táng tại khu vườn Dinh Đốc học Hà Nội. Gần nửa tháng sau, khi đang làm cỏ lúa gieo trên cánh đồng làng, bà Hoàng Diệu mới nhận được tin chồng tuẫn tiết ở Hà Nội. Bà đã ngất xỉu trên bờ ruộng. Chồng làm quan đến Thượng thư, Tổng đốc đại thần, vợ lại không xênh xang lên xe xuống ngựa mà chỉ là một nông dân bình thường, thật là một điều hiếm thấy xưa nay.

Vua Tự Đức vô cùng thương tiếc, ra lệnh tổ chức Quốc tang và đưa hài cốt của ông về an táng ở quê nhà, giữa cánh đồng lúa xanh ngát của quê mẹ. Hiện nay lăng mộ của ông ở làng Xuân Đài, xã Điện Quang đã nhiều lần được trùng tu đã trở thành Di tích Văn hóa lịch sử Quốc gia.

Hoàng Diệu được đông đảo sĩ phu, nhân dân Hà Nội và Bắc Hà khâm phục thương tiếc. Ông được thờ trong đền Trung Liệt (cùng với Nguyễn Tri Phương) trên gò Đống Đa. Tại đây có hai câu đối rất hay:

Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa

Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên

Dịch:

Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất

Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh.

Tôn Thất Thuyết, một đại thần nổi tiếng thuộc phe chủ chiến viếng ông hai câu đối, được khắc tại mộ ở Xuân Đài:

Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện

Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm

Dịch:

Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước

Bình sanh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm.

Ra đi, Hoàng Diệu chẳng để lại tài sản gì cho con cháu, ngoài phẩm chất, khí phách tuyệt vời của một nho sĩ và một thanh gươm báu. Tất cả đã được con cháu tộc Hoàng lưu giữ như một thứ gia bảo “truyền tử lưu tôn”. Năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, người chắt nội của ông đã mang thanh gươm ấy đi cướp chính quyền ở Hội An. 

Lê Thí