Dấu ấn người Quảng trên Cao nguyên Lâm Viên

11:04 04/04/2019

(NQPN) Người Quảng Nam – Đà Nẵng có mặt trên Cao nguyên Lâm Viên (LangBiang) từ năm nào, cư trú ở đâu, chiếm tỉ lệ bao nhiêu so với dân số đang còn là vấn đề cần khảo sát, nghiên cứu.

Vì nhiều lý do khác nhau mà người Quảng rời bỏ quê hương vào Đà Lạt sinh sống, nơi có đất đai màu mỡ, thích hợp cho phát triển nông nghiệp nhất là chè, rau, hoa.

Qua một số tài liệu mà chúng tôi thu thập được thì cùng với quá trình hình thành và phát triển của thành phố ngàn thông, đến nay vừa tròn 125 năm kể từ khi Bác sĩ Yersin đặt chân lên Đà Lạt, thì người Lạch, Chil, Srê là chủ nhân chính của vùng đất này, trong đó người Lạch là tộc người sống lâu đời nhất. “Lạch” theo tiếng địa phương là “rừng thưa” dùng để chỉ vùng rừng thông, đồi trọc trải dài xuống phía Tây Nam của thành phố Đà Lạt ngày nay; còn số người Việt lúc bấy giờ chỉ có một số ít người Kinh từ đồng bằng lên để mua bán, trao đổi hàng hóa; một số người dẫn đường cho các đoàn thám hiểm và một số tù nhân thay vì phải đày đi Lao Bảo – Côn Lôn thì bị đưa lên Đà Lạt để khai phá đất đai, xây dựng nhà cửa, công sở, đường sá.

Trong cuốn “Đà Lạt – Thành phố Cao nguyên” của UBND thành phố Đà Lạt xuất bản năm 1993, thì cư dân Đà Lạt hình thành qua nhiều giai đoạn, trong đó có bộ phận người Quảng Nam – Đà Nẵng, nhiều nhất là trong 3 giai đoạn: trước năm 1945, từ 1945 đến 1954 và từ năm 1954 đến 1975. Đáng chú ý là từ năm 1923 khi đồ án quy hoạch do kiến trúc sư Ermest Hebrard hoàn thành và Đà Lạt trở thành thủ phủ của Đông Dương, một số công trình kiến trúc, đồn điền được xây dựng, kể cả đường giao thông, đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt được khởi công… thì các luồng di cư từ các tỉnh phía Bắc, duyên hải Miền Trung (Nam – Ngãi – Bình – Phú) đến đây ngày càng đông. Đây là bộ phận cư dân rất quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển của thành phố này. Điều đó cho thấy từ khi Sở Trà Cầu Đất được thành lập năm 1922 (Société des plantations indochinoises de thé che Arbre Broyé) thì đã có một bộ phận người Quảng Nam – Đà Nẵng vào làm công ở đây, trong đó có ông Nguyễn Đình Sung. Năm 1927, ông Sung cùng với 10 người khác đứng ra xin lập làng Trường Xuân và làng chính thức được công nhận vào ngày 23/4/1929. Cùng với việc lập làng Trường Xuân (nay thuộc xã Xuân Trường), ông đã vận động thành lập Chùa Làng, làm nơi lễ bái cho bà con phật tử, sau đó ông được bầu làm Hội trưởng. Làng Trường Xuân là làng người Việt đầu tiên được thành lập ở Cao nguyên Lâm Viên rồi mới đến một số làng khác như Hà Đông (1938), Saint jean (1936), Nam Hồ (1938), Nghệ Tĩnh (1940), Ánh Sáng (1952), Du Sinh (1954), Thánh Mẫu, Đa Thành (1955)… Hiện nay, tại Đình làng Cầu Đất thờ cúng ông Nguyễn Đình Sung như vị “Thần hoàng làng”. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, đặc biệt là những năm 1959 – 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách “Đinh điền”, “tố cộng, diệt cộng”, một số bộ phận người Quảng Nam – Đà Nẵng có quan hệ với cách mạng rời bỏ quê hương lánh nạn đến vùng quê mới; tiếp đó trận lụt năm Thìn (Giáp Thìn - 1964) làm cho một số người mất nhà cửa, đời sống khó khăn nên vào Đà Lạt sinh sống nơi có đất đai màu mỡ, thích hợp cho phát triển nông nghiệp nhất là rau, hoa. Đặc biệt là từ những năm 1968 đến 1970, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt tại các tỉnh miền trung, nhất là chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng nên một bộ phận di cư vào Đà Lạt làm cho cộng đồng người Quảng Nam – Đà Nẵng ở Cao nguyên Lâm Viên ngày càng đông đúc.

Chỉ tính riêng ở làng Thái Phiên (nay Phường 12, Thành phố Đà Lạt) hiện có hơn 300 hộ, bà con xây dựng nhà thờ Hội đồng hương Quảng Nam – Đà Nẵng  nhằm tưởng nhớ đến các bậc tiền bối là người Quảng Nam – Đà Nẵng có công khai phá và góp phần lập nên làng Thái Phiên.

Theo PGS. TS Bùi Thị Tân, Đại học Khoa học Huế viết về “Làng xã Việt Nam trong lịch sử”, thì vấn đề lập làng cũng có những nét giống đó là lúc đầu họ sống lẻ tẻ ở một vài nơi, dần dần họ tụ tập lại thành từng khu vực như Cầu Đất, Xuân Thọ, Trạm Bò, Sào Nam, Tây Hồ, Thái Phiên, Xuân Thành, Quảng Thừa, Quảng Lập, Kađô (Đơn Dương); Bồng Lai, Phú Hội, Hiệp Thạnh (Đức Trọng). Sau 1975, bộ phận đồng bào Quảng Nam mà chủ yếu là huyện Đại Lộc vào xây dựng vùng kinh tế mới ở Tân Nghĩa (Di Linh).

Có thể nói rằng, không phải ngẫu nhiên mà một số địa danh như Xuân Trường, Thái Phiên, Nam Hồ, Tây Hồ, Xuân Thọ, Quảng Lập không có liên quan gì đến văn hóa, lịch sử của Quảng Nam – Đà Nẵng? Theo ông Trần Tuấn Tài, nguyên Trưởng Khoa Công tác xã hội – cộng đồng, Trường Đại học Đà Lạt viết trong cuốn “Đất và người Tây Nguyên” của tạp chí Xưa và Nay xuất bản năm 2007 có đề cập đến các địa danh Đà Lạt – ngoài cách dùng tên những người có công khai phá mở mang vùng đất này, như Đạ Păng Đoòng (Suối ông Đoòng), Liêng Tô Sra (Thác ông Tô và bà Sra), Ferme Farraut (Nông trại Pharô) hoặc địa danh lịch sử như Mê Linh, Vạn Kiếp, Lam Sơn, còn dùng tên các danh nhân văn hóa, nhân vật lịch sử để đặt tên cho một số địa danh. Do vậy, một số địa danh nói trên ít nhiều theo thiển ý của tôi đều có mối quan hệ đến vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng, chí ít thì ở những nơi này có đông người Quảng Nam – Đà Nẵng sinh sống. Chỉ tính riêng ở làng Thái Phiên (nay phường 12, thành phố Đà Lạt) hiện có hơn 300 hộ, bà con xây dựng nhà thờ của Hội đồng hương Quảng Nam – Đà Nẵng. Hàng năm, đến ngày Giỗ tổ Hùng Vương, bà con tụ tập về đây để tưởng nhớ vua Hùng, tưởng nhớ những người có công với nước, đặc biệt tưởng nhớ đến các bậc tiền bối là người Quảng Nam – Đà Nẵng có công khai phá và góp phần lập nên làng Thái Phiên, nhằm phát huy truyền thống quê hương, chung sức, chung lòng xây dựng quê hương mới, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Chợ Đà Lạt, nơi có đa số tiểu thương là người gốc Quảng Nam - Đà Nẵng.

Phần đông dân cư đến lập nghiệp không chỉ đơn thuần về kinh tế, vì ở quê nhà nơi đất hẹp người đông, điều kiện đất đai canh tác, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, chịu nhiều thiên tai, bão lũ nên họ tìm đến vùng đất mới để sinh sống. Đây là lực lượng lao động góp phần vào việc chuyển dịch kinh tế, cải tạo giống, áp dụng phương thức kỹ thuật nông nghiệp với công nghệ cao, hình thành vùng chuyên canh rau, hoa không những phục vụ trong nước mà góp phần vào kim ngạch xuất khẩu, tạo ra thu nhập, cải thiện đời sống, nhiều nơi trở thành vùng sản xuất kiểu mẫu như Làng hoa Thái Phiên, Xuân Thành, Đa Quý thuộc xã Xuân Thọ (Đà Lạt), xã nông thôn mới Quảng Lập (Đơn Dương), Hiệp An (Đức Trọng), làm cho Lâm Đồng, Đà Lạt thêm tươi đẹp, lung linh bởi sắc màu, nơi núi rừng trùng điệp bát ngát đồi thông tỏa sắc hướng trời như đồng chí Mai Xuân Ngọc - nguyên Uỷ viên Khu uỷ Khu 6, nguyên Phó Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Tuyên Đức, nguyên Bí thư Thị uỷ Đà Lạt đã viết về Đà Lạt:

“Yêu biết mấy quê hương ta Đà Lạt

Nơi suối ngàn ôm chặt lấy đồi thông

Vườn đầy hoa, đường rực sắc tươi hồng

Thừa gió mát, đất bốn mùa rau cải…”.

Ở đâu có người Quảng, nơi đó ắt có mì Quảng.

Người Quảng Nam – Đà Nẵng đã không ngừng phát huy truyền thống cách mạng “trung dũng – kiên cường”, tích cực tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng của Đà Lạt – Tuyên Đức, động viên con em thoát ly tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều người ở các vùng ven Đà Lạt như Xuân Trường, Xuân Thọ, Trại Mát, Thái Phiên, Nam Hồ, Đa Phú, Nam Thiên, Suối Tía, Bồng Lai, Hiệp Thạnh, Quảng Hiệp, Định An (Đức Trọng), Thạnh Mỹ, Quảng Lập (Đơn Dương)… làm cơ sở nuôi giấu cách mạng, tạo bàn đạp vững chắc cho các đội công tác, góp phần vào cuộc tấn công và nổi dậy của thành phố Đà Lạt, bẻ gãy các cuộc hành quân càn quét của địch, đến năm 1975 cùng với quân và dân địa phương giải phóng Đà Lạt - Tuyên Đức góp phần cùng miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối.

Máu, mồ hôi, công sức của đồng bào chiến sĩ, trong đó có đồng bào chiến sĩ Quảng Nam – Đà Nẵng trên chiến trường Đà Lạt - Tuyên Đức đã đổ xuống tô thắm thêm cho lá cờ truyền thống của dân tộc ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ.

Nhiều gia đình, cá nhân người Quảng Nam – Đà Nẵng được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý của Đảng và Nhà nước; nhiều mẹ được tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”; có người đã trải qua trùi rèn trong các lao tù của địch, quyết không đầu hàng, có những hành động dũng cảm được phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”; một số đồng chí là cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị đang ngày đêm rèn luyện, cống hiến trước cám dỗ, vật chất đời thường có những đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững trật tự trị an trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có người đã trở thành PGS. TS, nhà khoa học, có nghiên cứu đóng góp cho phát triển của địa phương; có người qua chiến đấu gian khổ trở thành tướng lĩnh hoặc có cụ đến nay 77 năm tuổi Đảng nhưng vẫn giữ vững khí chất cách mạng, một lòng, một dạ theo Đảng đến hơi thở cuối cùng để lại tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.

Có thể khẳng định, sau 125 năm hình thành và phát triển, Đà Lạt có được như ngày hôm nay có sự đóng góp không nhỏ của cộng đồng người Quảng sinh sống trên Thành phố ngàn hoa này.

Để phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, sự chịu thương, chịu khó, vượt mọi khó khăn trong lao động sản xuất, chiến đấu góp phần xây dựng quê hương mới không ngừng phát triển theo phương châm “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong thời gian tới cộng đồng người Quảng Nam – Đà Nẵng trên mảnh đất Nam Tây Nguyên này hãy đoàn kết cùng với đồng bào các dân tộc trong tỉnh khắc phục khó khăn, phấn đấu đưa Đà Lạt - Lâm Đồng phát triển, trở thành một trong những địa phương đi đầu trong cuộc cách mạng 4.0, như Bác Hồ đã từng căn dặn:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”.

Đó là cách tốt nhất để người Quảng Nam – Đà Nẵng tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng có những đóng góp xứng đáng trên quê hương mới, để ngọn lửa kiên cường bất khuất không bao giờ tắt, để núi rừng mãi mãi một màu xanh./.

Nguyễn Bạn

(Chủ tịch Hội đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng tại Lâm Đồng)