Gia đình có 3 sĩ phu yêu nước chống Pháp

16:09 14/09/2019

Năm 1883, sau khi thực dân Pháp đưa quân tấn công vào cửa biển Thuận An, uy hiếp trực tiếp đến kinh thành Huế, triều đình nhà Nguyễn và Tự Đức đã ký Hiệp ước Hác-măng (25.8.1883) và hiệp ước Pa-tơ nốt (6.6.1884) đầu hàng và dâng nước ta cho thực dân Pháp. Trước sự nhu nhược và cam tâm bán nước của triều đình Huế, nhân dân khắp nơi trong cả nước, đồng tâm hợp lực, tiếp tục đứng lên kháng chiến chống Pháp.

Tự đường họ Nguyễn - hệ Nguyễn Dục.

Tại Quảng Nam, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân và các sĩ  phu yêu nước trong tỉnh đã dấy lên mạnh mẽ, với nhiều hình thức khác nhau, nhằm biểu lộ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc. Ở làng Chiên Đàn, huyện Hà Đông (nay là xã Tam An, huyện Phú Ninh) có một gia đình sĩ phu yêu nước rất tiêu biểu thời bấy giờ là gia đình cụ Nguyễn Dục (cha), Trần Văn Dư (con rể) và Nguyễn Thích (con trai Trần Văn Dư). Bằng nhiều hình thức và hành động khẳng khái của mình, gia đình này đã góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược vào những năm 80 của thế kỷ 19.

1. Phó bảng Nguyễn Dục không ham danh lợi, lấy đạo thánh hiền răn dạy học trò về tinh thần yêu nước, thương dân.

Cụ Phó bảng Nguyễn Dục lúc trẻ đã thể hiện tư chất thông minh và là người con hiếu thảo. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), ông đỗ Phó bảng và được bổ nhiệm làm quan, nhưng ông viện cớ mẹ già đau ốm nên phải ở nhà phụng dưỡng. Trải qua hai đời vua nhà Nguyễn, từ Thiệu Trị đến Tự Đức, ông được bổ làm quan với nhiều chức vụ khác nhau: Kiểm thảo đến Hành tẩu nội các thời Thiệu Trị; Giáo thụ đến Thị lang bộ Lễ, sung chức Giáo đạo ở Dục Đức đường thời Tự Đức.

Ông cũng đã nhiều lần cáo bệnh từ quan. Đối với ông, việc làm quan với mục đích là giúp nước, chăm lo dân lành, việc gì có lợi cho nước, cho dân là làm. Việc dạy cho học trò, không phải vì lợi lộc, tiền của mà cốt đem sự hiểu biết của mình để răn dạy lớp hậu sinh tinh thần yêu nước, thương dân; lấy đạo lý của thánh hiền để làm gương cho hậu thế.

Phó bảng Nguyễn Dục, tuy không phải là quan võ, không trực tiếp tham gia phong trào chống Pháp; nhưng tấm gương đức độ, thanh liêm của một vị quan, một nhà giáo, đã ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và tinh thần yêu nước của các sĩ tử sau này. Đúng như nhận định của Hà Đình Nguyễn Thuật khi viết về ông: “Thói đời khác xa, người làm quan đau đáu lợi danh, nhưng ông thì lặng lẽ sống đời cao khiết thanh bạch, vượt khỏi hạng tầm thường, không màng vàng bạc, uống nước lã khác cách thế gian, mười lăm năm làm quan thẳng thắn, không lo toan của tiền. Cho nên, một mai ra đi, không lưu luyến thứ gì. Sự tiến thoái của ông khớp với nghĩa, ấy là đạo dạy người”.  

2. Tiến sĩ Trần Văn Dư không chấp hành sự điều động của triều đình, cùng với sĩ phu trong tỉnh, phất cờ Nghĩa hội, lãnh đạo nhân dân chống lại quân Pháp xâm lược và bọn vua quan bán nước.
Tiến sĩ Trần Văn Dư là con rể của Phó bảng Nguyễn Dục. Ông là sinh năm 1839, đỗ Cử nhân ân khoa dưới triều Tự Đức (1868), rồi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875). Vốn sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho, lại được học hành với thầy, vừa là cha vợ sau này, nên đạo đức của gia đình và thầy dạy, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước, thương dân của ông trên con đường quan lộ sau này.

Ông đã từng làm quan đến chức Tán Thiện chánh mông đường, rồi Hồng Lô tự khanh, Biện lý bộ Lại, sung chức Thương bạc sự vụ. Từng giữ nhiều chức vụ ở các địa phương và trong triều, nên ít nhiều ông cũng đã hiểu hết nội tình và sự thối nát của triều đình Tự Đức cũng như cảnh khốn khổ của dân lành lúc bấy giờ. Nhưng có lẽ đến khi ông nhậm chức Sơn phòng sứ Quảng Nam tại Trà My thì mộng ước chống giặc, cứu nước, cứu dân mới được thực hiện. Ông cùng sĩ phu và nhân dân trong tỉnh, đứng lên chống Pháp và vua quan triều Nguyễn.

Tháng 7.1885, vua Hàm Nghi xuất bôn, chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), xuống chiếu Cần Vương, thì cũng là lúc triều đình nhà Nguyễn thấy được việc cử Tiến sĩ Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ Quảng Nam là một điều vô cùng bất lợi, nên triều đình liền cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu về giữ chức Sơn phòng và điều Trần Văn Dư vào làm Bố Chánh ở Quảng Ngãi. Nhưng ông từ chối và cùng với các sĩ phu yêu nước trong tỉnh thành lập Nghĩa hội Quảng Nam, dưới quyền chỉ huy của ông. Bước đầu phong trào Nghĩa hội đã có những thắng lợi nhất định. Tháng 9.1885, dưới sự chỉ huy của ông và các tướng lĩnh, Nghĩa hội đã đem quân tiến chiếm tỉnh thành và làm chủ thành tỉnh trong khoảng 20 ngày.

Sau khi Nghĩa hội rút quân về, liên quân Pháp và Nam triều huy động lực lượng đông đảo, tiến đánh Sơn phòng, làm cho Nghĩa hội thất bại nặng nề. Trước tình thế nguy nan đó, ông cùng với đồng sự, bàn kế “giải giáp quy điền” để bảo toàn lực lượng, chống Pháp lâu dài. Tháng 12.1885, ông giao quyền lại cho phó hội Nguyễn Duy Hiệu, để về kinh nhằm tìm ra kế sách có lợi cho phong trào Nghĩa hội. Sự việc bất thành, do trên đường về kinh, ông ghé lại tỉnh thành, bọn quan lại bán nước Châu Đình Kế bắt ông và mượn tay quân Pháp chém ông, lúc đó nhằm ngày 13.2.1885.

Dẫu rằng, sự nghiệp của ông đối với phong trào Nghĩa hội quá ngắn, nhưng công lao và tinh thần yêu nước của ông mãi mãi sáng ngời trong lòng nhân dân vào buổi đầu kháng chiến chống Pháp và vua quan nhà Nguyễn trong thế kỷ 19.

3. Tiếp nối truyền thống yêu nước, chống Pháp của cha và ông, Tiến sĩ Nguyễn Thích không chịu sống quỳ, tham gia cùng phe chủ chiến chống Pháp, hy sinh tại kinh thành Huế.

Nguyễn Thích là con ruột của Phó bảng Nguyễn Dục. Ông sinh năm Canh Tuất (1850), đỗ tiến sĩ dưới triều vua Kiến Phúc (1883), làm quan đến chức Biên tu Hành tẩu Cơ mật viện. Trong lúc nước nhà loạn lạc, triều đình rối ren, phe phái chia rẽ nội bộ; một bộ phận không nhỏ quan lại trong triều bạc nhược, chủ trương hàng giặc để vinh thân; Tiến sĩ Nguyễn Thích cùng với phe chủ chiến chống lại giặc Pháp và bọn quan lại đầu hàng.

Tháng 5 năm Ất Dậu (1885), quân Pháp được bọn tay sai hậu thuẫn đã ồ ạt tấn công vào kinh thành Huế, ông cùng với các quan lại phe chủ chiến, quân sĩ và đồng bào chống trả quyết liệt. Nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, lại bị bọn tay sai mưu phản, kinh thành thất thủ, ông cùng với một số quân sĩ và đồng bào tử trận. Tuy sự nghiệp chống giặc cứu nước của ông ngắn ngủi, nhưng tinh thần yêu nước, chống xâm lược mãi mãi sáng ngời.

Gia đình Phó bảng Nguyễn Dục, tuy mỗi người một địa vị xã hội khác nhau, hình thức đấu tranh khác nhau, nhưng đều có chung hoài bão là chống giặc ngoại xâm và bọn vua quan bán nước, sách nhiễu dân lành, mãi mãi được đời  sau trân trọng và ghi nhớ.

Phạm Văn Bính

(QNO)