Ký ức những bờ xe nước

14:07 16/07/2019

(NQPN) Thủy lợi là điều kiện quan trọng để làm nên mùa vàng cho nhà nông. Cha ông ngày xưa thường nhớ nằm lòng câu “nước, phân, cần, giống”. Trong thời đại điện khí hóa nông thôn, việc tạo nguồn nước tưới cho ruộng đồng không còn là chuyện khó khăn trong sản xuất thời vụ hằng năm. Người ta chỉ cần một chiếc mô-tơ cố định, đường dẫn điện và khơi kênh mương là có thể đưa nước lên đồng tưới tiêu hàng trăm mẫu ruộng để vượt qua những cơn nắng hạn kéo dài, cho lúa trên đồng luôn xanh tốt.

Bờ xe nước ngày xưa.

Chẳng bù lại nhiều chục năm trước đây, việc lấy nước phục vụ cấy cày là vấn đề khó của nhà nông; là nỗi lo mất mùa màng của người dân quê tôi hai sương một nắng. Tôi nhớ làm sao những bờ xe nước cũ thân thiết. Không phải vì nó giúp người dân quê tôi đem nước lên đồng, cho cơm no áo ấm; mà vì bóng dáng của nó luôn ẩn chứa nguồn yêu thương mang đậm hồn quê kiểng, quê nhà…

Mỗi lần về quê, ngang con đường qua cánh đồng Ba Khe làng Hà Dục Đông, nhìn mấy bờ xe nước một bánh đơn độc, cần mẫn xoay vòng, chắt bốc từng ống nước nhỏ nhoi, rỉ rã từ dòng khe trong đồi, bồi tưới những rẻo ruộng ven triền đồi cỗi cằn là lòng tôi dâng lên niềm hoài niệm bâng quơ về một thời quá vãng trên miền quê mưa bùn nắng bụi. Dừng lại bên đường, bước chậm rãi đến gần bờ xe nước, ngồi xuống vạt cỏ xanh… để được ngọn gió nồm chiều mát rượi chở tôi về với những ký ức xưa xăm thời thơ ấu, rong chơi trên miền quê yên bình nhưng cũng xa lăng lắc.

Làng tôi như bao làng trung du khác nằm bên bờ sông Vu Gia hiền dịu. Con sông mang vác những nhọc nhằn quê tôi từ mấy trăm năm trước, cần mẫn dang tay về biển cả. Để rồi mỗi ai từng dứt áo ra đi đều có căn nguyên mà yêu, mà nhớ; mà hoài niệm về những tháng ngày ả êm nơi một sông quê xứ, một góc quê nhà.

Làng trải dài dọc sông. Sông tới làng, tới đồng ruộng và đồi núi. Là vùng giáp miệt thượng nguồn trung du nên sông quê tôi không mênh mang như xứ người mà đôi bờ thường rất hẹp, có độ dốc lớn, chảy xiết. Mùa nắng dòng nước trong veo như dãi lụa xanh lăn tăn con sóng, vắt qua những triền đồi, đồng bãi, làng xóm nên thơ; mùa mưa thì sông đỏ mắt đục ngầu, chở phù sa bồi đắp để xanh um dâu lúa sắn ngô. Và có lẽ cũng từ nhiều đặc điểm tự nhiên ấy nên người dân quê tôi cứ mùa lại mùa thường làm rất nhiều bờ xe nước, phương tiện thủy lợi cơ bản để cho những mùa vàng đầy bông trĩu hạt, gánh về từng nhà cơm áo ấm no.

Lần đầu tiên trong đời mẹ dẫn tôi ra bến sông thì bờ xe nước đã đứng đó rồi. Tuổi thơ tôi và bao bè bạn trang lứa từng sống êm đềm với những kỷ niệm làng mạc, ngôi trường cũ, cánh đồng, những đồi sim tím ngần nỗi nhớ, đêm trăng sáng hát đồng dao dung dăng dung dẻ, bắt cây dừa chừa cây ngọn; chơi u mọi, cút kiếm, bịt mắt bắt dê… và cả những ngày trốn học cùng lũ bạn đi tát cá ao đìa, bùn đất mốc meo, ra bến sông hụp lặn, cút bắt thỏa thuê, chơi trò đá bò, trồng chuối bẻ búp, rồi leo trèo đánh đu trên vòng quay của bờ xe nước làng tôi, để khi về nhà chấp nhận những trận đòn tím mông nhớ đời.

Tôi nhớ, ngày ấy làng tôi có đến hai bờ xe nước. Bờ xe nước Bến Miếu bên ngã sông Con đổ nước vào ruộng Đồng An; bờ xe nước bến ông Khuê bên sông Cái thì cho nước chảy theo con mương thủy lợi dọc từ cuối đến đầu làng rồi đổ ra Lung Ngõ, Ruộng Su… chưa kể của Hoằng Phước, Dục Tây, Tịnh Đông… những bờ xe nước trông xa vừa như những cổ máy khổng lồ nhẫn nại ngày đêm tưới nước lên đồng; vừa tạo nên nét thơ mộng, êm đềm, tạc vào không gian dáng vóc quê kiểng để làm nơi thương nhớ đi về của mỗi đời người.

Lần đầu tiên trong đời mẹ dẫn tôi ra bến sông thì bờ xe nước đã đứng đó rồi.

Bờ xe nước làng tôi là bờ xe nước “kỳ vĩ” hơn cả. Năm nào thời tiết nắng nóng, hạn hán kéo dài thì người ta làm đến mười hai bánh xe quay. Đêm đêm, giữa không gian vắng lặng, tĩnh mịch, khi mọi người đã chìm vào giấc ngủ say; từ đầu làng đến cuối làng chỉ còn lại âm thanh ầm ì, lắc cắc, rào rào,… gõ đều vào không gian nghe xao động đến xốn xang cả một vùng quê. Tôi nghe người lớn kể rằng, công việc thiết kế, tìm kiếm vật liệu lâm sản để dựng bờ xe nước của làng là sự kiện vô cùng hệ trọng của năm, đòi hỏi sự đóng góp công sức của cả cộng đồng. Từ thời ông nội, rồi đến cha tôi đều là những người thợ lành nghề trong việc thiết kế, thi công tạo dựng nên bờ xe nước. Mỗi năm, vào những ngày cuối tháng Mười, trời đất bắt đầu hanh khô sau bao trận lụt dữ dằn trôi nhà trôi cửa. Làng tôi cử từng tốp trai tráng khỏe mạnh theo các vị trung niên dày dạn kinh nghiệm, mo cơm, ống nước lên rừng, tìm vật liệu như cây gỗ, róng, mây, lồ ô… Việc tìm nguyên liệu diễn ra khoảng mươi ngày, nửa tháng, sau đó từ trên đầu nguồn, họ kết thành từng bè nổi thả xuôi theo sông về bến sông của làng. Nghỉ ngơi dăm bảy bữa cho lại sức, cả làng bắt tay vào thiết kế, đo đạc. dựng xe. Bến sông, trên bờ những ngày ấy náo nhiệt đến lạ. Nào thợ mộc, thợ tre, công lao động phổ thông… mỗi người một việc. Nào đục lỗ trụ cho bánh xe, tiện trục. Những cây gỗ hạng danh mộc như chò, trao, lim… được chọn làm trụ. Mỗi bánh có hai trụ chính đường kính từ nửa thước tây, dài khoảng mươi lăm thước; Trục bánh bằng gỗ lim chắc khừ, không ăn mòm khi bánh xe quay, được đẽo gọt kỹ càng. Róng nan bánh xe là những cây săng dài to bằng cổ chân người lớn, được khớp vào trục như nan quạt; những sợi mây nước, mây trường được đánh tréo để liên kết vững chắc giữ cho bánh xe khi quay đều. Rồi việc dựng máng xối cao đến mươi lăm thước, ... Mọi việc được tiến hành nhịp nhàng như một công trường. Nơi này tiếng va đập của vồ đóng trụ thình thịch, nơi kia tiếng cưa cắt xẻ gỗ ầm ầm; tiếng chặt tre, chẻ nứa chanh chách; tiếng hô “hai… ba” làm hiệu lệnh để trai làng kéo tời nâng trục cái, gác giàn… xao động cả một góc sông quê. Chưa hết, trong không gian nhộn nhịp, vui vẻ ấy thỉnh thoảng lại vang lên một vài câu hát hò khoan của ông Bảy Khái, ông Biện Thành… với lời lẽ thâm thúy, dí dõm ai nghe cũng đến say lòng, làm tan đi sự mệt nhọc. Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy, được phân công xách ấm nước chè chạy lon ton theo mẹ, bà mang các thức ăn như mì Quảng, bún, chè, chuối chín… đến cho mọi người ăn uống nước nửa buổi; rồi chạy loanh quanh dọc biền dâu rủ nhau bắt dế, đá cầu mà trong lòng thì cứ ước đến khi người lớn dựng xong bờ xe nước, có nơi mà vui chơi tắm nhảy đánh đu cho “thỏa chí tang bồng”.

Bờ xe nước dựng xong là làng vui như ngày hội. Một lễ cúng tươm tất có pháo nổ đùng đùng. Cả làng ra đứng dọc mương thủy lợi để chờ xem dòng nước đầu tiên chảy ra đồng trong niềm vui khôn tả. Ai cũng vui vì biết rằng mùa lúa tới trên đồng làng quê mình chắc sẽ đầy bông.

Rất lâu rồi không về thăm quê. Tôi và lũ bạn trang lứa lớn lên như mây ngàn phương, như sông trăm ngã. Khi có dịp quay về cố xứ thì đã “vật đổi sao dời”. Người làm ruộng bây giờ đi xe máy ra đồng. Cấy cày không còn vất vả một nắng hai sương. Phương tiện tưới tiêu cho lúa là những cổ máy bơm, những mô-tơ điện hiện đại. Cuộc sống của quê đang đi lên no ấm đẹp giàu. Có lẽ từ lý do ấy, nên rất lâu rồi, những bờ xe nước làng tôi chỉ còn trong hoài niệm.                                                            

Nguyễn Hải Triều