Nghề rèn làng Gia Cát

10:05 21/05/2019

Tiếng đe búa không còn vang lên đều đặn mỗi ngày. Và ngọn lửa lò rèn giờ đây chỉ được nhen nhóm từ những đôi tay không còn đủ sức. Gần một đời nối nghiệp cha ông, những người thợ nhiệt huyết nhất cũng đành bất lực nhìn làng nghề sắp mai một...

Nghề rèn ở làng Gia Cát tồn tại hàng trăm năm nay. 

1. Ông Trần Liên (67 tuổi, thôn Tân Phong, xã Quế Phong, Quế Sơn) là một trong số ít người đang gìn giữ nghề rèn truyền thống của làng Gia Cát (nay thuộc 2 thôn Gia Cát Trung và Tân Phong, xã Quế Phong). Nghề rèn với ông Liên như báu vật gia truyền; con cháu trân quý, dựa vào đó mà tìm kế mưu sinh.

Thuộc bậc cao niên, ông Liên am hiểu lịch sử của làng nhưng cũng không thể nhớ chính xác thời gian nghề rèn xuất hiện. Chỉ biết, con cháu ở làng nối nghiệp hàng trăm năm nay, có gia đình đã 5 - 7 đời làm nghề. Điểm nhấn duy nhất mà bất kỳ người thợ nào ở làng Gia Cát cũng nhớ đến chính là ông thợ Diêm (sống ở đầu thế kỷ XX) - người có công truyền thụ và đưa nghề rèn hưng thịnh nhất. Tương truyền, ông Diêm là một người rất khéo tay và rất giỏi nghề rèn. Ông nổi tiếng khắp vùng Quế Sơn thời ấy do sáng tạo ra “kẹp hùm” bắt hổ và rèn nhiều vũ khí, gươm giáo cho du kích địa phương đánh giặc.

“Làng ni hồi trước hổ trên rừng tràn về bắt gia súc, gia cầm và quấy phá đời sống người dân. Nhờ cái sáng kiến của ông thợ Diêm mà hổ không còn lộng hành nữa. Sau này, Pháp rồi Mỹ - ngụy đánh tới, cũng nhờ ông Diêm và các bậc cha chú kế cận đã bí mật rèn nhiều loại vũ khí mà làng tránh được các đợt càn quét” - ông Liên kể.

Lò rèn làng Gia Cát không còn đỏ lửa thường xuyên như trước.​

Tiếng lành đồn xa, các đội du kích và người dân khắp nơi trong tỉnh tìm về làng Gia Cát rèn vũ khí, nông cụ. Cả làng phải hơn 20 lò rèn, mỗi lò 5 - 7 thợ làm việc cả lẫn đêm vẫn không hết việc. “Trước thời ông Diêm, người thợ phải vào tận núi Dương Quánh đào quặng, đem về nung nấu, tách sắt ra nên cực lắm. Dần về sau, sắt cũng dễ tìm nên nghề rèn thêm phần thuận lợi. Bởi vậy, đi khắp nơi, hỏi cái cuốc, cái rựa do làng Gia Cát làm ra thì không ai không chuộng” - ông Liên tự hào.

2. Từ hiên nhà ông Liên nhìn ra là lò rèn. Đây cũng là cái gia sản mà ông thừa kế từ cha mình đã ngót 50 năm. Mọi thứ trong lò rèn đều đã cũ nhưng chứa đầy tâm huyết của ông, và những thế hệ đã khuất. Hướng mắt về phía bếp lò lâu ngày chưa nhóm lửa, ông Liên ngán ngẩm thở dài trong nỗi lo tìm người kế nghiệp.

Ông Liên kể, gia đình ông giữ nghề rèn đã 4 đời. Thuở nhỏ, ông phụ cha mình thổi lửa, nhóm lò rồi dần nối nghiệp tới giờ này. Cách đây 5 năm, đơn đặt hàng làm cả ngày không xuể, phải gọi 3 thợ phụ. Còn cả tháng nay, người tới lui đặt chưa tới 20 sản phẩm nên chỉ tận dụng công nhà.

“Mình thì làm 90% là thủ công, chỉ có khâu cưa sắt hay quay mô tơ là có máy hỗ trợ thôi. Tất nhiên, sản phẩm mình tính công, tính chi phí sắt, than và đảm bảo về chất lượng nên giá khá cao. Như cái rựa phải đến 250 nghìn đồng. Trong khi đó, rựa ngoài Bắc nhập về giá tầm 80 nghìn đồng, sao mình cạnh tranh nổi; loại rựa này khá thô, 10 cái như một, sử dụng vài lần đã hỏng. Chỉ một số người hiểu hết giá trị của sản phẩm rèn truyền thống thì mới tự tìm đến lò đặt hàng thôi” - ông Liên lý giải.

Sản phẩm rèn truyền thống khó cạnh tranh với thị trường.​

Ông Liên so sánh để chúng tôi hiểu sự khó khăn của nghề truyền thống trong thời kỳ cạnh tranh với hàng hóa công nghiệp. Với tay nghề của mình, ông thừa sức rèn ra những sản phẩm tương tự nhưng chưa bao giờ ông phá lệ. Nhiều năm qua, nhiều đơn đặt hàng làm rựa, cuốc theo kiểu “công nghiệp” đều nhận cái lắc đầu từ ông, mà như cách nói của ông là thà dẹp lò rèn chứ nhất quyết không ham lợi, ham rẻ mà đánh mất nghề rèn truyền thống.

“Nghĩ sự đời mắc mớ chi ai mô/ Trăm thứ cực đổ vô ông thợ rèn”, ông Liên ngâm 2 câu thơ về làng rèn, rồi lắc đầu tiếc nuối: “Cái nghề ni cực. Ai yêu nghề mới hiểu được cái khó của việc duy trì, gìn giữ. Tôi cũng có 2 đứa con trai từ nhỏ đã học và biết rèn nhưng chẳng đứa nào chịu nối nghiệp tổ tiên”.

3. Cả làng Gia Cát giờ chỉ còn 2 lò rèn truyền thống hoạt động. Và tương tự ông Liên, một lão làng khác là ông Giang Trình (75 tuổi, thôn Gia Cát Trung) cũng chung nỗi lo tìm người kế cận. Ông Trình chính là đệ tử đời thứ 3 của ông thợ Diêm tài hoa ngày nào. Nếu chứng kiến sự khéo léo và đầy chính xác trong từng đường búa, thì không ai nghĩ đó là một ông lão tóc đã điểm bạc và một mắt không còn nhìn rõ.

“Tôi bị tai nạn cách đây hơn 10 năm khiến một bên mắt phải không còn nhìn rõ. Lúc ấy, từ bệnh viện trở về, rèn lại khó khăn lắm. Nhìn không rõ, mắt không tinh nên làm chi cũng không chính xác. Mất vài năm vừa làm, vừa cố gắng tập tành, tới chừ thì ổn rồi” - ông Trình tâm sự.

Ở tuổi 75, ông Trình vẫn âm thầm giữ lửa nghề rèn.​

Nói để thấy, lòng yêu nghề trong ông Trình không có dấu hiệu bị che mờ bởi tuổi tác hay tật bệnh. Nhiều lần con cháu khuyên ông nghỉ ngơi, an hưởng tuổi già nhưng chẳng ngày nào lò rèn của ông vắng tiếng búa. Ai đặt hàng hay cần chỉnh sửa nông cụ, ông đều nhận lời. Sản phẩm nào ông làm ra cũng khiến khách hàng yên tâm. Đặc biệt, cuốc, rựa ông rèn, người sử dụng bị hỏng cứ đưa tới sẽ được “bảo hành” miễn phí.

Chừ không ai nối nghiệp rèn, ông tiếc không? Ông đáp: “Hơn 60 nối nghiệp truyền thống, lỡ không ai làm nữa thì đáng buồn thật. Nghề ni cực, ít tiền nên chừ chẳng mấy ai giữ nghề ngoài mấy ông già ni. Tôi may có bà vợ, lâu lâu rèn nhờ bả phụ quay lửa, nhóm lò chứ một mình cũng chẳng đủ sức. Rèn có 1 - 2 cái cuốc, lời không mấy lấy đâu thuê công hay đào tạo thợ”.

Dứt câu, ông Trình im lặng và tập trung quay lửa. Từng vòng quay đều đặn, ngọn lửa đỏ rực thanh sắt. Ông lôi ra, giáng từng búa thật chính xác, vang lên những tiếng giòn tan. Thanh sắt nguội lại tiếp tục quay lửa. Để có được cái rựa, cái cuốc thật sắc, phải trải qua quá trình thấm đẫm mồ hôi, nước mắt của người làm nghề, trăn trở với nghề.

Hồ Quân

(QNO)