Người Quảng Nam nói... tiếng Tây!

18:05 05/05/2019

Qua một thế kỷ đô hộ Việt Nam, bên cạnh những thảm trạng xã hội - một điều tất yếu của chế độ thực dân, ta cũng không thể phủ nhận rằng người Pháp đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong nền văn hóa nước ta.

Cái chạn bếp thường được gọi là “Gạc - măng - rê”.

Ở đây, chỉ xin nói tới ngôn ngữ. Một số tiếng Pháp được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, không chỉ trong giới trí thức, mà trong cả giới quần chúng bình dân. Những người thuộc thế hệ 5X trở về trước rất thường sử dụng tiếng Tây, mặc dù nhiều người đều là dân “mít đặc” tiếng Tây.

1. Đến tận bây giờ, tôi cũng không hiểu vì sao đất Quảng Nam thuở đó rất ít người làm cho Pháp, rất ít được tiếp xúc với người Pháp, mà tiếng Tây lại khá phổ biến trong giới bình dân lao động, so với một số tỉnh thành miền Trung khác. Những chú nhóc là chúng tôi thuở đó cũng hay dùng tiếng Tây theo những người lớn tuổi, một cách rất đỗi tự nhiên như tiếng Việt, mặc dù có đập bảy ngày cũng không ra một chữ Tây nào!

Khác với chuyện đọc các thứ trong tiếng Anh một cách khôi hài bằng những từ chỉ đồ đạc và công việc trong nhà bếp: “mâm đây” (Monday: thứ 2), “tiêu đây” (Tuesday: thứ 3), “quét đây” (Wednesday: thứ 4), “thớt đây” (Thursday: thứ 5),  “dao phay đây” (Friday: thứ 6), “sa-tế đây” (Saturday: thứ 7), “sướng đây” (Sunday: Chủ nhật); ở đây, người Quảng Nam dùng tiếng Tây “zin” nhưng đọc theo kiểu “tiếng Tây... ba rọi”.

Bắt đầu từ một khoảng không gian mà bất kỳ một chú nhóc nào trên khắp thế giới này, dù ở nông thôn hay thành phố, cũng đều say mê; đó là cái sân bóng đá. Nói là cái “sân” cho... oai chứ thực ra, đó thường là khoảng đất trống khá rộng nằm sát nên những cánh đồng lúa. Sau khi chia làm hai phe, thì bắt đầu phân nhiệm vụ cho từng người. Thủ môn thì gọi là “gạc-gôn”, hậu vệ thì gọi là “a-ri-e”, tiền vệ thì gọi là “a-văng”. Phạt góc thì gọi là “cọt-ne” (corner: góc), phạt ném biên thì gọi là “nu” (a nous: thuộc về chúng tôi), lỗi để bóng chạm tay thì gọi là “manh” (main: bàn tay), đánh đầu thì gọi là “tết” (tête: cái đầu; coup de tête: cú đánh đầu), việt vị thì gọi là “oọc-rơ” hay “hô-rơ” (hors-jeu). Đó là chưa kể, trước đi đá, hai bên phải giao ước là khi tranh bóng có hăng say đến mấy cũng không được chơi “rờ-nu” (genoux: đầu gối)! Mỗi khi nhớ lại cái thời ấu thơ tuyệt đẹp đó, tôi luôn thấy lòng bình yên đến lạ lùng. Trái bóng từ cái chân trần của những chú nhóc vụt bay trên những luống cỏ, như dội vào cánh cửa im ỉm khóa của thời gian, và mở toang ra khung trời mênh mông của những cánh đồng với những gốc rạ xám trơ phơi, nơi khói chiều đã bắt đầu bay lên cao, cùng với những cánh diều.      

Đó là ngoài đồng, về đến nhà thì thậm chí nơi góc bếp vẫn có dấu ấn của tiếng Tây. Hồi đó, không có tủ lạnh, nhà nào cũng có một cái tủ gỗ đóng lưới để cất thức ăn, gọi là “gạc-măng-rê” (garde-manger; garde: bảo vệ, che chắn; manger: ăn), bình chứa nước nóng thì gọi là bình “tẹt-mốt” (thermos). Một số dụng cụ trong nhà cũng toàn xài...  tiếng Tây, như “cờ-lê” (clé: khóa vặn), “mỏ-lết” (molette), đinh “vít” (vis), “tuốc-nơ-vít” (tournevis: cái vặn vít), “công-tơ” (compteur: thiết bị đồng hồ), “công tắc” (contact: cầu dao)...  

Phụ nữ uốn tóc thì gọi là “phi-dê” (tôi chưa tra được từ này). Người nào ưa làm dáng thì bị xem là “ưa làm le”, “ưa lấy le” (l’air: dáng vẻ, bộ điệu). Khăn tay thì được gọi là khăn “mù-xoa” (mouchoir), bia thì gọi là “la de” (la bière).

2. Nhưng có lẽ chiếc xe đạp là mang nhiều dấu ấn lý thú của tiếng Tây nhất. Gần như xài tiếng Tây rặt. Điều đó cũng đúng thôi. Xe này được đem từ bên Tây qua mà! Hồi đó có hai loại xe đạp. Một loại xe dàn ngang dành cho nam đi, và loại dành cho nữ đi được gọi là “xe đầm” (dame: cô, bà). Phía trước xe có cái “ghi đông” (guidon: thanh tay lái), dưới chân là “pê-đan” (pédale: bàn đạp), phía sau yên ngồi là là “bạc-ba-ga”  (porte-bagages: tấm chở hàng hóa). Dây xích thì gọi là  “dây sên” (chaine), cái thắng được gọi là “phanh” (frein). Tấm sắt chắn bùn bao quanh bánh xe thì gọi là “gạc-đờ-bu” (garde-boue; boue: bùn), tấm sắt che dây xích thì gọi là “gạc-đờ-sên” (garde-chaine). Từ “ru-líp” mà ta gọi một cách phổ biến hiện nay chính là từ “roué libre” của tiếng Tây. Mỗi chiếc xe đạp  ngày trước còn trang bị một ống “bơm” (pompe) để phòng khi xe xì hơi. Hồi đó, không có đèn đường, nên xe đạp còn được gắn thêm bộ phận phát điện nhỏ ở đầu xe để làm sáng một bóng đèn nhỏ dưới “ghi-đông” để đi vào ban đêm, gọi là cái “đi-na-mô”  (dynamo).

Ngày đó có một từ, mà đến nay vẫn còn một số người lớn tuổi hay dùng, là “líp-ba-ga”, như nói “cứ xài líp-ba-ga”, “cứ uống líp-ba-ga”, “cứ chơi líp-ba-ga”... để chỉ sự vui chơi hay ăn xài tự do, thoải mái mà không phải suy nghĩ. Từ “líp” là “libre” trong tiếng Tây, có nghĩa là “tự do”; còn “ba-ga” là “bagage”, có nghĩa là “hành lý, hàng hóa”. “Líp-ba-ga” có lẽ là “libre bagage” theo kiểu tiếng Tây... ba rọi, và theo một số nhà nghiên cứu thì nó có nghĩa là “tự do chở hành lý, hàng hóa mà không sợ bị phạt”.

Uống cà phê thì dùng “phin” (filtre: bình lọc). Thuở sinh tiền, ba tôi luôn uống cà phê đen ít đường vào sáng sớm. Ông tự pha bằng phin. Ngay trong thời bao cấp khổ cực, ông vẫn không bao giờ bỏ thói quen này. Má tôi lại chỉ thích uống nước nhì cũng của cái “phin” đó với sữa. Và bà thường gọi cà-phê nước nhì đó là cà-phê “loong-di”. Hồi còn bé, tôi thắc mắc, hỏi thì má tôi dĩ nhiên chẳng biết, vì bà cũng chỉ nói theo thói quen như nhiều người. Sau này, đi học trung học, tôi mới hiểu chữ đó, và thầm phục cách chơi chữ hóm hỉnh của người dân Quảng Nam. Các ngày trong tuần thì thứ hai được gọi là “lundi” theo tiếng Pháp, đại khái đọc là “loong-di”. Lần thứ hai, tức lần “xé-cần-hen” (second hand), được chuyển thành “ngày thứ hai” trong tuần thì cũng là ý tưởng thú vị.

Có một từ Tây (?) mà tôi cho là thuần túy Quảng Nam! Đó là từ “sô-nê”. Tức giận, muốn gây sự thì gọi là “sô-nê”; ganh tỵ theo kiểu “GATO” (ghép các chữ cái của cụm từ “ghen ăn tức ở”) cũng gọi là “sô-nê”. “Sô” (chaud) là nóng, “nê” (nez) là cái lỗ mũi. “Nóng mũi” mà được dịch thành “sô-nê” thì đúng là cách dịch... siêu bồi theo cách bình dân, kiểu như dịch “không sao đâu” là “no star where” vậy.  

Người viết xin ngừng ở đây và nói lời từ giã bằng một câu quen thuộc ngày xưa, mà bây giờ thỉnh thoảng mới nghe thấy: “Ô-voa” (Au Revoir: xin hẹn gặp lại).

Liêu Hân

(QNO)