Tên làng và những nếp quê

21:05 23/05/2020

(NQPN) “Làng tôi sau lũy tre mờ xa/ Tình quê yêu thương những nếp nhà… (Làng tôi – Hồ Bắc)

Có một thời gian rất dài, người ta hầu như quên hẳn tên làng. Thay vào đó tên làng được danh xưng bằng những con số: thôn 1, thôn 2… chứ không gọi đầy đủ tên đặt cho mỗi vùng đất đã có tự bao đời. Tên gọi của làng thường hàm chứa những ý nghĩa nhân văn; gói ghém ước vọng của cha ông một thuở, thăng trầm qua nhiều thế hệ đến hôm nay. Chúng ta cũng hiểu được rằng, do đất nước có một thời gian trải qua chinh chiến; tất cả những tên gọi đều phải được quy đổi gọn ghẽ, ký ước để phù hợp với tình thế. Tên làng cũng chẳng thể là ngoại lệ. Nhiều năm trở lại đây, trong tiến trình chấn hưng văn hóa dân tộc, đồng hành với phong trào xây dựng đời sống văn hóa, người ta bắt đầu danh xưng lại những tên làng.
Ảnh minh họa.

Bắt đầu từ những tên làng…  

Khi tôi chập chững những bước đi đầu tiên ra ngõ, bi bô gọi tiếng “mẹ”, “cha”; trên con đường đất ngoằn ngoèo đưa tôi đến với ngôi trường mái rạ phên tre tháng ngày thơ ấu… và ghi khắc đầu tiên trong ký ức tôi là tên làng, tên sông, tên núi nơi bóng dáng quê nhà.
 
Cả xã, cả huyện tôi ngày ấy, tên làng nào cũng thật đẹp, mà mỗi khi nhắc đến đều ngấm trong tâm khảm niềm tự hào quê xứ của mình. Làng tôi là Đại An. Cha tôi kể rằng, ngày xưa khi tổ tiên vào đây lập nghiệp, vùng đất này từng là nơi hoang vu, ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm, thường xuyên đe dọa tính mạng, tài sản... Đặt tên cho một vùng đất, cho một làng, cha ông thường gói ghém những ước vọng, niềm tin của con người, mong cho được sự bình yên, thịnh vượng, trù phú. Có lẽ vậy nên tên đẹp của làng là lẽ đương nhiên thôi. Đại An là mong ước cho sự an bình mãi mãi! Rồi những tên gọi khác như Hà Tân, Trúc Hà, Hoằng Phước, Hà Dục, Tịnh Đông… tên đất, tên làng luôn dào dạt nguồn yêu thương vô bờ, là niềm tự hào của bao thế hệ sinh ra lớn lên trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mỗi đời người.
 
Ngẫm lại, không ở đâu như ở đất nước ta, “đất có lề, quê có thói”. Mỗi làng, xã đều có nét độc đáo riêng từ tính cách, nết ăn ở, đến những thói quen ứng xử giao tiếp, hoạt động mưu sinh, nghề nghiệp… thể hiện trong cộng đồng, gia đình, và từng con người. Với những tính cách, truyền thống khác nhau của mỗi làng riêng biệt đã hình thành nên sự “cục bộ, vô tư” rất đáng yêu, đáng quý ở con người không kể lớn hay nhỏ, già hay trẻ, mỗi khi đi ra đều mang “ dáng dấp”… làng, như câu thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh “Xưa tôi sống trong làng, giờ làng sống trong tôi!...”
 
Tôi nhớ ngày còn nhỏ, lớp học của lũ trẻ chúng tôi trong ngôi nhà người thầy giáo quê rất mực nghiêm nghị. Địa điểm cuối làng, cũng là nơi giáp ranh làng tôi và Hà Dục Tây. Học trò thầy dạy không chỉ trẻ con trong làng mà cả Hà Dục Tây, Tịnh Đông, Lục Nam… cũng đến xin thọ giáo. Cứ chiều chiều, sau giờ tan học là đám học trò chúng tôi tụm năm tụm bảy trên nền ngôi mộ tổ tộc Đoàn để bày ra biết bao nhiêu trò chơi thú vị. Nào là u mọi, đá bò, cút kiếm, nhảy dây, hoặc lang thang trên gò hái bông dũ dẽ. Những lúc đang không khí vui vẻ sôi động ấy, chỉ cần một đứa bên làng tôi hát lên câu vè: “Đại An ăn cá bỏ đầu/ Dục Tây xách dọc tới xâu đem về/ Đem về đến ngõ mụ Đề/ Bẻ ba trái bắp cắp về cho con!...” là tự nhiên cái không khí hòa thuận ấy không còn duy trì được nữa. Mộ tổ tộc Đoàn sẽ biến thành ranh giới của trận mạc. Trẻ nhỏ hai làng trở thành hai phe choảng nhau đến u đầu mẻ trán vì câu vè có nội dung chọc ghẹo người làng Hà Dục Tây; và kết thúc cuộc chơi là chấp nhận những hình phạt nghiêm khắc bằng roi mây, thước bảng, hay quỳ trên xơ mít đến rướm máu đầu gối!
 
Tên gọi của làng thiêng liêng trong tình cảm con người, có thể dù nghèo đói cơ cực, gian khó, con người vẫn luôn thủy chung gìn giữ nghĩa cử cao đẹp, hết mực bảo vệ thanh danh của làng; một khi ai đó vô tình hay cố ý buông lời xúc xiểm, miệt thị, thì dù có thân quen, gần gũi cho mấy cũng coi như người bỏ đi, sẵn sàng đoạn giao, không quan hệ! Có lần về Đại Chánh điền dã văn nghệ dân gian, tôi nghe câu chuyện kể về hát hò khoan đối đáp; rằng có một cặp trai gái yêu nhau tha thiết, nhưng trong một đêm hát, cô gái lỡ buông đùa rằng: “Ai về An Chánh - Đá Mài? Một con mắm cái cõng mười hai lát cà/ Anh ơi bỏ xứ đi ra/ Không thì anh chết cùng cà với dưa!”. Chỉ một câu hát vậy, mà làm tiền đề cho sự đổ vỡ một tình yêu nồng thắm, không hàn gắn lại được. Chuyện khác: Vào những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, có ông Bốn Mục, người Đại Thắng thường lên vùng Đại Chánh, Đại Thạnh (Đại Lộc) làm nghề bốc thuốc. Trong một lần uống rượu, chỉ ngẫu hứng đọc mấy câu thơ tự sáng tác sau đây: “Đại Thạnh là đây có phải à?/ Một phần than củi một phần ta/ Trai thời trau chuốt tay rìu búa/ Gái nọ nào đâu biết lụa là!...”. Thế là ông bị dân địa phương cho là khinh miệt xứ sở, quê làng của họ. Người ta phẫn nộ, tẩy chay nghề bốc thuốc, buộc ông phải về quê quán của mình.
 
Chỉ là những câu chuyện kể thôi, cũng để cho ta thấy rằng lòng tự tôn, tự trọng khi bị xúc phạm thì mọi người đều tỏ thái độ phản kháng, có khi rất cực đoan để bảo vệ “phẩm giá” làng xã mình.
 
Ai đó đã từng chia sẻ với tôi rằng, muốn thưởng thức văn nghệ hay bóng đá cho sướng mắt, sướng tai thì nên xem văn nghệ và bóng đá làng; nơi ấy mới thật sự hấp dẫn! Ngẫm lại câu ấy quả không ngoa tí nào. Có lần tôi đã chứng kiến một sự việc “cười ra nước mắt”: Hai làng tổ chức thi diễn văn nghệ. Trong thời gian tập luyện, những người cầm chịch trong làng đưa ra một điều lệ rất là hài hước như sau, con gái lấy chồng làm dâu bên làng này không được về nhà cũ thăm cha mẹ; và con trai ở rể cũng không được về nhà của cha mẹ ruột mình vì một lý do đơn giản, giữ bí mật chương trình văn nghệ không tiết lộ cho đối thủ biết(!), bí mật tất chiến thắng.
 
Tên làng thể hiện niềm tự hào về đặc điểm, sự viên mãn của đất đai vốn có bao đời. Ở huyện Đại Lộc, xưa có làng Khánh Vân (sau này nhập lại với làng Thanh Đơn thành làng Thanh Vân, thuộc xã Đại Cường). Khánh Vân là làng nghề truyền thống, chuyên xây cất nhà cửa đẹp nổi tiếng từ Bắc chí Nam. Những người thợ hồ Khánh Vân từng xây cung điện cho triều đình Huế thời phong kiến. Trai làng tài hoa, đất làng phú quý. Khánh Vân là một trong những địa phương có điệu “hò giã vôi” sôi động: “Dô hò dô hụi! Hò dô hụi, xít hụi hò khoan! Hụi hò khoan bên nữ bên nam…Hụi hò khoan…”. Người làng Khánh Vân đi ra thường tự hào quê xứ của mình với những câu: “Nhất khoai đầu vồng, nhì có chồng Khánh Vân”, hay: “Cha em thợ mộc Kim bồng/ Muốn em lấy chồng về xứ Khánh Vân”.Tương tự như vậy, các làng khác như Hà Dục, một thời đồng dâu xanh mát mắt người, những bủa kén vàng ươm, những nong tằm chín… “Ai Về hà Dục thì về/ Thấy nong tằm chín khó bề bỏ đi!”; rồi “Trống lâm Yên - Chiêng Phước Kiều”; “Trầu nguồn ở tận sông Bung/ Chờ cau Đại Mỹ để cùng về xuôi”…v.v và v.v…! Những câu hát, câu nói ấy thường làm cho đằm thắm lòng người, tạo nên những cảm xúc không nguôi về đất đai, xứ sở của mình mỗi khi đi xa, mỗi khi trở về, và đôi lúc… đang sống trong làng vẫn thấy nhớ!
 
Và đồng hành cùng quê kiểng...
Theo suy nghĩ của người viết, quê kiểng thì bao đời vẫn là quê kiểng. Nông thôn luôn mang đậm một chất quê bàng bạc, bình dị vốn dĩ của nó vượt trên cả khái niệm “cũ và mới”. Có điều, ta làm sao đó để người dân quê không còn cơ cực “hai sương một nắng” như xưa nữa; đời sống kinh tế được ổn định, văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú; nông dân ra đồng bằng xe máy, đường sá thênh thang bê-tông không lấm lem bùn đất, “Xóm làng giờ đã bê – tông/ Nghĩa  là quê đã thoát vong lao đao…” (Nguyễn Hàn Chung), để cuộc sống vươn lên no ấm đẹp giàu là viên mãn lắm rồi. Nhưng nói đi rồi phải nói lại. Tôi có người bạn làm thơ tâm sự một câu “bao đồng” với tôi rằng: “ Anh ạ! Em sợ mai mốt rồi lớp trẻ con cái của mình chẳng con biết làm thơ nữa! Chúng nó đâu còn thấy hình ảnh những cột khói đồng chiều, con đò trên sông quê; đâu còn biết thế nào là biền bắp, bãi lúa, nương dâu, bờ tre, bến nước…, mà cảm xúc thơ ca thì đa phần ở đó anh ạ!”. Có thể câu nói của bạn tôi hơi cực đoan, nhưng chí ít nghe qua, vẫn nghiệm ra điều có lý của nó. Thời đại công nghiệp hóa, khoa học kỹ thuật phát triển chóng mặt ảnh hưởng không nhỏ đến nếp sinh hoạt truyền thống của quê. Cải tạo vườn tạp, những hàng tre làng, hàng cau đầu ngõ, bờ giậu chè tàu không còn nữa, hình ảnh quê mất dần trong tâm khảm con người, chỉ còn trong ký ức những ai thích hoài cổ!

Ai đó từng nói rằng: “Văn hóa là cái còn lại khi tất cả đã mất đi”. Những tên làng đã trở về với cuộc sống chúng ta bằng tiếng gọi thân thuộc như bao đời nay khi ta bỏ dần những con số thứ tự có tính liệt kê; đã đồng hành cùng ta trên bước đường xây dựng quê hương giàu đẹp. Ta sẽ bỏ đi hoặc cải tạo điều đáng cải tạo; và hãy suy xét kỹ lưỡng để gìn giữ những giá trị bất di bất dịch của quê xứ, để mỗi tên làng là nguồn cảm xúc vô biên làm nên thơ ca nhạc họa; để làng quê luôn mãi là niềm yêu thương bất tận của đời người!

Nguyễn Hải Triều