Thiếu tướng Mai Văn Phúc - Một tấm lòng kiên trung với quê hương đất nước

10:10 17/10/2018

(NQPN) Nhắc đến Thiếu tướng Mai Văn Phúc, nguyên Đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đoàn 26 Tăng thiết giáp Miền, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7 thì ai ai cũng đều khâm phục ông – người luôn một lòng đi theo cách mạng. Ông là người khá tiêu biểu đại diện cho một thế hệ sĩ quan chỉ huy xe tăng Việt Nam. Thoát ly đi chiến đấu ở chiến trường Liên Khu 5 từ rất sớm, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, ông tập kết ra Bắc. Quyết định của Đảng, Nhà nước và Quân đội chuẩn bị tạo nguồn xây dựng các quân, binh chủng hiện đại như tăng thiết giáp, không quân, hải quân… đã dần hiện thực hoá mơ ước của người lính cụ Hồ thời chống Pháp như ông “trong tay chỉ có khẩu súng trường Mútcơtông, vài quả lựu đạn, mặc quần xà lỏn đi đánh giặc, nay sắp được “cưỡi” xe tăng trên tháp pháo có ngôi sao màu đỏ, vượt Trường Sơn về giải phóng quê hương”…

Thiếu tướng Mai Văn Phúc

Một đời binh nghiệp

Lớn lên trên cái nôi của phong trào đấu tranh ở xã Hòa Quý, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng), nên sau Cách mạng tháng 8/1945, hòa vào không khí đấu tranh sục sôi của đất nước, Mai Văn Phúc đến với cách mạng, bắt đầu bằng việc tham gia vào hoạt động đoàn thể thanh niên, dân quân du kích ở địa phương.

Đầu tháng 2/1947, ông chính thức được gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Đại đội 9, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn 93 Quảng Nam – Đà Nẵng, ông được phân công vào bộ phận liên lạc của tiểu đội Liên – Trinh (Liên lạc – trinh sát), và kiên quyết xin được đi chiến đấu.

Những năm tháng trong quân ngũ, ông đã kinh qua nhiều trận đánh. Trong đó có những trận đánh đột kích vào thành phố Đà Nẵng hồi tháng 3/1947, khiến cho địch nhiều tổn thất, run sợ…

Từ tháng 10/1945 – 1/1947, ông tham gia vào đội tự vệ chiến đấu của xã Hòa Quý, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam; và là chiến sĩ của Đại đội 9, Tiểu đoàn 102, Mặt trận Non Nước. Trong khoảng thời gian bốn năm (từ tháng 2/1947 đến tháng 5/1954), ông là Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó trinh sát Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803, Liên khu 5; Chi ủy viên.

Thiếu tướng Trương Văn Hai (bên trái), Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh ân cần thăm hỏi vợ chồng Thiếu tướng Mai Văn Phúc.

Tháng 6/1954 đến tháng 9/1954, ông là Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803, Liên khu 5; Đảng ủy viên tiểu đoàn. Vốn là Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Trung đoàn 93, Quân khu 5 tập kết ra Bắc; rồi Đảng ủy viên Tiểu đoàn, Phó bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn (từ tháng 10/1954 đến tháng 5/1955), tháng 6/1955 đến tháng 8/1959, theo sự phân công của tổ chức, ông được cử đi học khóa Học viên Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng; Học viên Trường Sỹ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh; Đại úy, Chi ủy viên.

Trước yêu cầu của cuộc đấu tranh chống Mỹ, tháng 9/1959 đến tháng 10/1963, ông đảm nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Xe tăng 202 – Trưởng đoàn đưa xe tăng sang chi viện cho Kong Le và Pathet Lào; Đại úy, Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn, Đảng ủy viên Trung đoàn.

Từ tháng 8/1964 đến tháng 4/1967, ở cấp bậc Thiếu tá, Mai Văn Phúc là Trợ lý Phòng Quân báo Miền; Trưởng phòng J16 Cơ giới Miền; Đảng ủy viên Cục Tham mưu Miền, Bí thư Đảng ủy Phòng. Từ 1967 đến 1969, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chính ủy Phòng Đặc công cơ giới Miền, Đảng ủy viên Cục Tham mưu, Bí thư Đảng ủy Phòng. Với cấp hàm Trung tá, từ tháng 2/1969 đến tháng 7/1971, ông lại đảm nhiệm chức Phó Chính ủy Lữ đoàn đặc công 429 miền Đông Nam bộ; Phó Bí thư Đảng ủy.

Đoàn Quân khu 7 chúc mừng trong lễ mừng thọ tuổi 91 của Thiếu tướng Mai Văn Phúc.

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/1971 đến tháng 6/1972, ông là Phó Chính ủy, Chính ủy Đoàn pháo binh 75 (Đoàn pháo binh Biên Hòa); Trung tá, Bí thư Đảng ủy. Tuy nhiên, đến tháng 7/1972, ông được cấp trên rút về bổ nhiệm làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn xe tăng 26 Miền; Trung tá, Bí thư Đảng ủy.

Tháng 1/1974, được sự chỉ đạo của cấp trên, ông cùng đoàn Cán bộ Miền ra học tại Học viện Quân sự với cấp hàm Thượng tá. Khi đang chuẩn bị kết thúc khoá học thì ông được lệnh của Miền điều về làm Tư lệnh Tăng thiết giáp chỉ huy xe tăng cánh Biên Hoà cùng Quân đoàn 4 trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975.

Thủ lĩnh thời bình

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Mai Văn Phúc đã kinh qua nhiều công việc với nhiều trọng trách khác nhau, và dù ở vị trí vào ông cũng luôn hoàn thành trách nhiệm được giao. Từ Cục phó Cục Xây dựng kinh tế Quân khu 7 - Thượng tá, Phó Bí thư Đảng ủy (1976 -1977); Cục phó, Quyền Cục trưởng Cục Quản lý Xe máy – Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Quản lý – Bảo đảm kỹ thuật xe tăng, Tổng cục Kỹ thuật - Thượng tá, Đại tá, Phó Bí thư, Bí thư Đảng ủy Cục (1977 -1980); Tư lệnh Binh đoàn 23 tham gia chuyên canh cao su ở Phú Riềng (tháng 8/1980 đến tháng 7/1982); đến Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân khu 7, Tập huấn tại Học viện Malinopxki – Liên Xô; Đại tá, Bí thư Đảng ủy Cục (Tháng 8/1982 đến tháng 9/1985); Phó Tư lệnh Quân khu 7, kiêm Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân khu 7, Đại tá, Thiếu tướng, Đảng ủy viên Quân khu, Phó Bí thư Đảng ủy Cục (tháng 10/1985 đến tháng 7/1990); và là Phó Tư lệnh Quân khu 7 phụ trách Kinh tế và Đối ngoại quân sự, Thiếu tướng, Uỷ viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu 7 (Tháng 8/1990 đến tháng 9/1995). Đến tháng 12/1997 về hưu ở tuổi 72 với quân hàm Thiếu tướng.

Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tặng hoa chúc mừng thiếu tướng Mai Văn Phúc nhân dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Công ty TNHH MTV Cao su Phú Riềng​.

Hơn 52 năm trong quân ngũ, rèn luyện, chiến đấu, trưởng thành từ người chiến sĩ, ông được phong quân hàm cấp Tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7, Uỷ viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu 7 và Tư lệnh Tăng - thiết giáp Miền (B2) đã đi vào lịch sử Quân khu và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Xuân Mậu Tuất 2018, Thiếu tướng Mai Văn Phúc sẽ bước sang tuổi 92. Dù chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm, nhưng những ký ức về nó, về những đồng đội, chiến sĩ năm xưa đã ngã xuống cho hoà bình hôm nay vẫn luôn hiện hữu trong ông. Ông luôn trăn trở: “Có được thành quả như ngày hôm nay, các thế hệ cha anh và trực tiếp là chúng tôi đã không tiếc xương máu của mình, tất cả đều chung một lòng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Năm 1946, lần đầu tiên tôi cầm lá phiếu bầu đại biểu Quốc hội tại quê nhà và đến cuối năm đó tôi nhập ngũ lên đường chiến đấu. Tháng 4-1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh tới giai đoạn quyết liệt, tôi trực tiếp tham gia đánh hướng Xuân Lộc, cửa ngõ then chốt tiến vào Sài Gòn. Cuộc đời tôi đã từng sống và chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước, bây giờ khi sức khỏe không cho phép đi nhiều nơi thăm lại các đồng chí và chiến trường xưa nhưng tôi luôn mong có một ngày được ra thăm Hà Nội, thăm lại nơi mình từng chiến đấu. Và năm 2010, ước mong của tôi đã thành sự thật khi cùng đoàn 1.000 anh hùng, tướng lĩnh về với đất Thăng Long, tôi rất sung sướng và hạnh phúc, tôi được nhìn lại cảnh vật, được hồi tưởng và suy ngẫm về một thời đã qua. Qua sự kiện này, tôi đặc biệt kỳ vọng vào thế hệ trẻ hôm nay sẽ làm rạng danh đất nước ta đồng thời sẽ giữ gìn, phát huy những thành quả cách mạng mà cha anh chúng ta đã làm được”.

Tạm biệt Thiếu tướng Mai Văn Phúc, tôi cứ ngẫm mãi lời tự bạch của vị tướng già đã từng xông pha nơi trận mạc: “Luôn suy nghĩ và làm những việc đúng để lương tâm mình thanh thản”. Được biết, những người con của ông bà đều trưởng thành; người con cả nối nghiệp của ông cũng được phong quân hàm cấp Thượng tá. Âu cũng chữ phúc mà ông và bà đã bền bỉ dựng xây.

Gia đình Thiếu tướng Mai Văn Phúc.

Bằng những chiến công oanh liệt trong kháng chiến và những việc làm tốt đẹp trong cuộc sống đời thường, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã được Đảng và Nhà nước phong tặng nhiều Huân chương danh hiệu cao quý, như: Huân chương Độc Lập hạng Hai, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 2 Huân chương huân công hạng 2, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba, 3 lần Dũng sĩ diệt Mỹ... Đặc biệt, năm 2014, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã vinh dự được trao tặng huy hiệu 65 năm tuổi Đảng.

Ngoài ra, ông còn được UBND TP.Đà Nẵng tặng thưởng 3 Bằng khen vì đã có công lao đóng góp trong hoạt động đồng hương và tham gia đóng góp vào các công trình của Đà Nẵng; Bằng khen của UBND TP.HCM vì đã góp phần xây dựng địa phương; đặc biệt, ông 2 lần vinh dự được UBMTTQVN TP.HCM tuyên dương “Gương người tốt việc tốt” cấp Thành phố… 

Thắng Lợi