Văn hóa hát ru Quảng Nam qua những câu ca dao

21:12 22/12/2018

(NQPN) Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu với nhiệt tâm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc cả nước nói chung, phạm vi Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng. Từ lâu, họ đã bỏ ra nhiều công sức sưu tầm những vần thơ, điệu hát dân gian qua những công trình gian nan vất vã, tưởng chừng như những người thợ lặn mò kim đáy biển. Tuy nhiên, trong khối trầm tích lắng đọng từ mấy trăm năm về trước, hàng trăm, hàng ngàn hay nhiều hơn nữa, những câu hát, điệu hò lai láng trong dân gian, một khối lượng vô cùng phong phú và đồ sộ đã được trục vớt lên, in thành sách xuất bản lưu hành và phục vụ quần chúng hay cho những ai còn nặng nợ với văn chương chữ nghĩa. Thưởng lãm bản sắc quốc hồn, quốc túy trong nền văn học dân tộc, một thời xa xưa đã phản ảnh qua từng giai đoạn thời gian mang đầy tính chất văn chương bác học và nhân bản âu cũng là “uống nước nhớ nguồn” vậy.

Hình minh họa.

Trước những ưu tư và trăn trở đó, cũng như với tấc lòng “Hoài cựu du du nhất phiến tâm”, cho phép chúng ta phát biểu rằng: Cội nguồn tinh hoa văn hóa dân tộc nằm trong Ca Dao, một kho tàng vô giá của văn học. Theo Việt Nam Tự Điển do Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931 thì Ca Dao là những câu hát phổ thông truyền khẩu trong dân gian. Ca là những bài hát thành khúc, Dao là những câu hát ngắn độ chừng năm, ba dòng được lưu truyền từ thế hệ này, qua thế hệ khác, đời này, qua đời nọ, tồn tại mãi mãi trong lòng quần chúng, mặc cho thời gian có mưa nắng hay bão táp phũ phàng trên quê hương yêu dấu, chỉ vì: “Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ!”.


Một vài ví dụ điển hình:

“Đứng bên ni sông,
Ngó bên tê sông, nước xanh như tàu lá 
Đứng bên ni Hà Thân,
Ngó bên tê Hàn, thấy phố xá nghinh ngang
Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
Đào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu
Lòng dặn lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu
Ở nuôi Thầy Mẹ, sớm chiều có anh”…


Hay là:

“Kể từ đồn Nhứt kể vô
Liên Chiểu, Thuỷ Tú, Nam Ô, xuống Hàn
Hà Thân, Quảng Cái, Mân Quan
Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra…

Kể từ ông Bộ, kể ra
Cây Trâm cả Lý, bước qua Bầu Bầu
Tam Kỳ, Chợ Vạn, Câu Lâu
Vĩnh Điện, Bà Rén, nhịp cầu nối quê
Thương nhau, ai dỗ đừng nghe
Củi săng mới đượm, củi tre mau tàn…”.

Những câu Ca Dao mộc mạc, dân dã trữ tình được hình thành và ra đời trong cung bậc âm hưởng của những vần thơ lục bát (đượm màu sắc dân tộc) đã phác họa nên địa giới tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trải dài từ chân đèo Hải Vân, làng Liên Chiểu và chấm dứt tại dốc Sỏi, phía trong làng Chu Lai, tiếp giáp địa giới tỉnh Quảng Ngãi.

Ngược dòng lịch sử, chúng ta thử tìm hiểu rằng: Kể từ giữa thế kỷ thứ XIV và sau khi Huyền Trân công chúa vu quy về làm hoàng hậu Chiêm Quốc thì dân tộc Đại Việt đã đặt những bước chân khai phá đầu tiên đến bờ phía Bắc sông Thu Bồn (Nằm trong hai Châu Ô và Rí), mà vua Chiêm - Chế Mân đã dâng hiến nhà Trần làm sính lễ. Và, cũng chính nền văn học dân gian, Ca Dao đã để đời những câu hát dí dỏm trường sinh:

“Tiếc thay, hạt gạo trắng ngần
Đem vo nước đục, lại vần lửa rơm”
“Tiếc thay, cây quế giữa rừng
Để cho thằng mán, thằng mường nó leo…”.

Tiếp theo là những đợt di dân Nam tiến năm 1403 của Hồ Quý Ly, năm 1475 của vua Lê Thánh Tông chọn lưu vực sông Thu Bồn là nơi quy tụ an cư lạc nghiệp trên đất Quảng Nam – Đà Nẵng (ngày nay), đầu cầu nối liền và mở rộng giang sơn bờ cõi về phương Nam của trăm họ Việt tộc ra đi từ đất Bắc. Nhờ vào những điều kiện thiên nhiên ưu đãi, sông nước thuận tiện cho việc giao thương vận chuyển. Đất đai màu mỡ phì nhiêu bởi phù sa bồi đắp sau mỗi mùa lũ lụt hàng năm, biến nơi đây thành nơi đất lành, chim đậu. Trải qua hơn sáu thế kỷ sinh hoạt và phát triển, xây dựng quê hương mới, con người xứ Quảng bằng văn chương bình dân Ca Dao trữ tình đã tích lũy và thành hình một dòng văn nghệ dân gian rất phong phú và đa dạng với nhiều thể loại như: Hát hò khoan - Nói vè - Hô bài chòi - Hò giã vôi - Hát đối nhân nghĩa hay Hát bãi trạo… Nhưng, trong các trường phái văn nghệ này thì điệu Hát Ru mang một tính chất khác biệt, không giống như những thể loại viện dẫn.


Vì rằng Hát hò khoan, Hát đối nhân nghĩa, Nói vè hay Hô bài chòi… đều phải được trình diễn trước chỗ đông người nhằm phục vụ cho đại đa số khán thính giả thưởng lãm. Thường thường, những nghệ nhân này phải có “tay nghề” với tâm hồn nghệ sĩ trời cho và phải “sáng dạ”, thuộc nằm lòng những thi phú điển tích và nhất là phải có phản ứng nhạy bén để đối đáp đúng lúc và kịp thời ngay tại chỗ, hiện trường khi đối phương “Xướng” lên những câu hát thách đố hay châm chọc… Rồi người nghệ sĩ mới hát “Họa” lại, hay “Đối” đáp với chủ đề lời hát “Xướng” trước đó. Trường hợp, chưa kịp ứng khẩu tự sáng tác ra ngay tại chỗ lời thơ, điệu hát của mình thì đã có “bửu bối lận lưng” là đã thuộc sẵn những bài hát “tủ”, những câu hát “ruột” đem ra hát “đưa đường” và “câu giờ” chờ câu hát mới. Cứ như thế, miệng thì hát, đầu óc thì suy nghĩ lục lạo câu hát nào phù hợp hiện trạng… Và, như vậy, đêm hát mới khởi sắc hào hứng “một đêm hát Hò khoan đáng đồng tiền, bát gạo, cho người thưởng ngoạn!”. Ta thường nghe rủ nhau đi xem Hội hát hò khoan. Che rạp Hô bài chòi trong những dịp Lễ hội đình đám như ba ngày Tết Nguyên đán, tháng Hai âm lịch có ngày Lệ Bà Thu Bồn hay những đêm trăng ngày mùa, đôi bên trai thanh, nữ tú hò hát đối đáp nhân nghĩa qua những giai thoại trữ tình giữa cảnh non nước thanh bình, ấm no hạnh phúc xa xưa mà Ca Dao hay Tục Ngữ là những tác phẩm chính.

“Ngó lên trên rừng, thấy cặp cu đang đá
Ngó xuống dưới biển, thấy cặp cá đang đua
Anh về lập miễu thờ Vua
Lập lăng thờ Mẹ, lập chùa thờ Cha
Chữ trung, chữ hiếu, chữ hòa
Đố anh ba chữ, thờ Cha, chữ nào?”


Ngay lập tức, chàng trai đáp trả một cách hóm hỉnh và rất có duyên:

“Chữ trung, anh để thờ Cha
Chữ hiếu thờ Mẹ, chữ hòa… thờ Em!”

Ngược lại, Hát Ru chỉ có một đối tượng duy nhất, đấy là đứa trẻ thơ đang nằm ngửa trong nôi hay người thiếu phụ đang cho con bú. Khi thấy đứa bé đã lim dim 

hai mắt, buồn ngủ, y thị bèn sè sẹ, khẽ tay đặt con vào nôi, lắc đưa nhè nhẹ, miệng hát nho nhỏ một câu lục bát. Nếu đứa trẻ chưa ngủ say thì thiếu phụ lại hát thêm một bài dài hơn chừng bốn câu. Còn nhược bằng đứa bé cứ vùng vằng khóc mãi, thiếu phụ lại tiếp tục một bài dài hơn chừng sáu hoặc tám câu. Do vậy, Hát Ru mang tính chất ngắn gọn, không dài lê thê như những thể loại khác. “Ca sĩ” hát Ru ở đây thường là mẹ, hay cha ru con. Ông bà, anh chị hay người giúp việc “đưa nôi ru em, ru cháu ngủ”.

Về hình thức: Bài Hát Ru thường rất ngắn, chỉ hai câu:


“Hai tay cầm bốn tao nôi
Mẹ ru con ngủ cho rồi kẻo trưa”.

“Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng, tao dài, tao nhớ, tao thương”.

Nếu bài hát có bốn câu thì thường là một khổ thơ song thất lục bát như:


“Đất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say
Gặp nhau chưa mấy lăm ngày
Đã mang ơn nặng nghĩa dày bạn ơi!”


Hoặc bốn câu lục bát:


“Bồng con, mẹ bỏ vô nôi
Để mẹ đi chợ, mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Bất Nhị, mua trầu Hội An”.

Hay những bài dài hơn thì thường là tám câu. Tuy nhiên, cũng có những bài Hát Ru dài hơn nữa nhưng đấy là những câu hát đối đáp nhân nghĩa, hát đố, hát xạo mà người Quảng Nam đã sử dụng làm Hát Ru.

Về hình thức, chúng ta có thể nói những bài Hát Ru xứ Quảng là những bài thơ mới, thơ tự do xuất hiện sớm nhất trong thi ca Việt Nam. Có những bài Hát Ru không theo một khuôn khổ nào cả, vì lối bỏ câu hay gieo vần rất phóng khoáng tự do, cốt diễn đạt được nội dung bài hát chứ không câu nệ ràng buộc vào khuôn khổ nhất định.Ví như: 


“Con chim đa đa, đậu nhánh đa đa
Nó lắc la lắc lẻo
Con chim chèo bẻo
Đậu nhánh măng vòi
Bạn ơi, ới bạn ở hoài rứa răng!
Trên trời, có một mặt trăng
Lâu ngày còn khuyết, huống chi ngãi đạo hằng bạn không lo
Mai đây, biển cạn thành gò
Sông kia cạn nước, bạn cắm đò, chờ ai?
Chữ rằng: Xuân bất tái lai
Ngày nay hoa nở, ngày mai hoa tàn…”.


Và như: 

“Giã đò mang giỏ hái dâu
Ghé vô thăm bạn, nhức đầu khá chưa?
Nhức đầu chưa khá!
Em băng đồng, băng sá
Bẻ một nồi lá về xông
Phải chi nên nghĩa vợ chồng
Đổ mồ hôi em quạt, ngọn gió lồng em che”.

Về Nội Dung: Điệu Ru Ca Dao với âm hưởng tiếng mẹ là cánh tay yêu thương, âu yếm ôm ấp, là tấm chăn ấp ủ, là làn gió mát dịu dàng mơn man, mang ước vọng trang bị tâm thức trẻ thơ từ khi vừa mới chào đời, thấm nhuần cách ăn, lối ở, hiểu biết cách xử thế, trau dồi ý chí và nghị lực, để khi trưởng thành có thể sống trong thanh thản, an bình hạnh phúc.


Hơn thế nữa, chỉ có trẻ sơ sinh Việt Nam, khi vừa mở mắt chào đời đã được chính người mẹ và những người thân trong gia đình dẫn dắt vào dòng văn học dân gian bằng những Điệu Ru đong đưa theo võng nôi kẽo kẹt. Nghệ thuật thi ca bắt nguồn từ văn hóa mẹ truyền đạt, dìu dắt tâm hồn trẻ thơ vào nền giáo huấn căn bản của con người, đi sâu vào tâm thức, tim óc, vào máu thịt, vào hơi thở, vào giọng cười hạnh phúc cũng như đau thương.


“Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời
Mẹ hiền ru những câu xa vời
Ạ à ơi, tiếng ru muôn đời!...”
(Tình ca của cố Ns Phạm Duy)

“Chiều chiều, lại nhớ chiều chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau
Chiều chiều xách giỏ, hái rau
Ngó lên mả mẹ, ruột đau chín chiều…”

“Chiều chiều, lại nhớ chiều chiều
Nhớ nồi cơm nguội, nhớ niêu nước chè
Nhớ hồi, thượng mã lên xe
Nhớ bát nước chè, nhớ chén đường non”…

“Ru con, con ngủ an lành
Mẹ đi gánh nước, rửa bành con voi
Muốn coi, lên núi mà coi
Noi gương Bà Triệu, cỡi voi đánh cồng…”.

Hay là:

“Có con, mẹ nghĩ thương thay
Chín tháng, mười ngày mang nặng, đẻ đau
Lên non, mới biết non cao
Nuôi con, mới biết công lao mẫu từ…”.

Ngoài ra, Hát Ru là để bày tỏ tâm sự riêng mình, để giải tỏa cho vơi bớt những nỗi niềm thương nhớ, uất ức tủi hờn đang chất chứa trong lòng. Hát để một mình mình biết, một mình, mình nghe. Hát là để nhắn nhủ đến một đối tượng nào đấy, như một người tình cũ, một người bạc tình, bạc nghĩa hoặc nhắn nhủ người yêu mà không cho người khác biết, cho nên và vì vậy lời hát mang tính chất ẩn dụ, ngụ ngôn, đôi khi tưởng chừng vô nghĩa hoặc tối nghĩa giống như một bức mật mã, chỉ riêng một người nào đó biết mà thôi.


Nếu bài hát chỉ hai câu lục bát thì câu trước là phần tỷ hứng, câu sau là phần thực.
Điển hình: 

“Trồng trầu, thả lộn dây tiêu 
Con đi đò dọc, mẹ liều con hư”.


Trường hợp bốn câu thì hai câu trước là tỷ hứng, cốt để gợi ý và hai câu sau là phần thực tức là phần chính yếu mà câu hát muốn diễn giải. Ví như:

“Một nong tằm là năm nong kén
Một nong kén là chín nén tơ
Bạn phỉnh ta, chín đợi mười chờ
Lênh đênh sông nước, vật vờ gió sương”.


Và, nếu bài hát có tám câu, thì bốn câu trước là tỷ hứng gợi ý và bốn câu sau là thực. (Điểm đặc biệt là Hát Ru xứ Quảng không hoàn toàn mang tính chất bình dân mà một số câu hát còn đượm tính chất một bài thơ tứ tuyệt trong thơ Đường. Tuy ngắn gọn nhưng rất cô đọng, thâm thúy dòng văn chương bác học. Qua một đôi câu hát, chúng ta khám phá ra được trong đám Nữ lưu đất Quảng ngày trước đã từng có những người theo nghiệp “bút nghiên” nên họ mới có khả năng xử dụng những câu chữ Nho, lồng vào trong bài hát một cách tài tình và chính xác):


“Mạc đạo xà vô giác
Thành long giã vị tri
Dó lâu năm, dó cũng thành kỳ
Đá kia lăn lóc có khi thành vàng
Giá thú bất khả hạ đàng
Công chúa lấy kẻ bán than cũng nhiều
Xưa nay sử sách còn nêu
Từ hoàng lấy gái lão tiều trên non”…

(Chớ bảo rằng con rắn kia không có sừng mà coi thường nó. Một ngày nào đó, nó sẽ hóa thành con rồng bay bổng lên mây. Cây dó kia trông tầm thường như vậy, nhưng biết đâu, ngày nọ sẽ hóa thành một khối kỳ nam, một loại trầm hương quý giá. Hòn đá đen đũi kia đang nằm lăn lóc giữa chốn bùn lầy nước đọng, biết đâu chừng là khối vàng ròng ẩn chứa bên trong. Cho nên việc hôn nhân chớ quá câu nệ sang hèn. Ngày nay người ta nghèo khó, ngày mai vinh hiển vẻ vang. Sử sách còn chép lại những mẫu chuyện như nàng công chúa lấy anh đốn củi đốt than cũng như chuyện chàng hoàng tử kết duyên con gái lão tiều phu).


Hát ru xứ Quảng còn có một số bài được viết theo thể hứng như:


“Vui thay, ba chốn vui thay
Kẻ câu sông Vị, người cày non tiên
Kẻ câu sông Vị, đặng tiền
Người cày núi lỡ non tiên đặng vàng”.

Và rất nhiều câu hát viết theo thể phú như:


“Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha, nhớ mẹ quá chừng bạn ơi!
Thương cha, nhớ mẹ thì về
Nhược bằng thương cảnh, nhớ quê thì đừng…”.

Như đã trình bày, điệu Hát Ru xứ Quảng là loại hình văn nghệ dân gian rất phổ thông với hai tính chất đơn giản và thường xuyên (đơn giản vì không cần có sân khấu, sân đình, không cần có đông khán thính giả. Thường xuyên vì bất cứ lúc nào cũng có thể hát được. Bất luận ngày đêm. Hễ, chỗ nào có tiếng khóc trẻ con là nơi đó, có lời Hát Ru).

Về địa lý, Hát Ru Quảng Nam mang đậm nét đặc thù của vùng sông nước Thu Bồn, vì nơi đây là điểm giao lưu pha trộn giữa ba nền văn hóa Việt Nam – Chămpa (Chàm) và Trung Hoa. Từ sáu trăm năm trước, Quảng Nam – Đà Nẵng là đất cũ của người Chiêm Thành. Sau khi người Việt đến làm chủ vùng đất này một thời gian không lâu thì người Trung Hoa đã có mặt tại Hội An. Những thương gia người Hoa từ các tỉnh Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hải Nam đã dùng tàu thuyền vượt biển đến phố Hội An lập thành bang hội để buôn bán (nôm na ta gọi họ là người Tàu?). Số người này đã lấy vợ Việt, sanh con đẻ cháu và định cư lâu đời tại Hội An chứ không quay về cố xứ nữa. Vào năm 1679 lại thêm số đông người Hoa không phục tùng triều đình Mãn Thanh cũng chạy sang nước Nam xin tỵ nạn chính trị. Họ đã được chúa Nguyễn dung nạp cho lập ra làng Minh Hương (làng của người Minh; ngụ ý người Minh chống Thanh bên Tàu) cũng tại Hội An. Trải qua nhiều thế hệ và thời gian, lớp người này dần dà đã được Việt hóa hay người Chiêm Thành còn sót lại trước đó cũng đã được hoàn toàn hóa Việt Quảng Nam như dòng lịch sử đã ghi.


Xuyên qua những nhận định và khảo sát trong khả năng và kiến thức hữu hạn, người viết xin trưng dẫn những nét đặc thù của ba nền văn hóa ấy đã in hằn theo năm tháng trên nướm ruột đất Quảng, thành phố cổ Hội An qua văn hóa Hát Ru bằng lời Ca Dao diệu vợi quê nhà:


- Với người phụ nữ Việt Nam bản chất chịu thương, chịu khó, hy sinh tận tụy vì chồng, vì con:


“Chàng theo chữ Biến, chữ Quyền
Chàng trao chữ thảm, chữ phiền thiếp mang
Một trăm tiếng xấu thiếp mang
Tiếng nhơ thiếp chịu, để chàng thơm danh”.


- Người phụ nữ Trung Hoa chịu ảnh hưởng ràng buộc nặng nề lễ giáo Khổng Mạnh, của chế độ phụ quyền trọng nam khinh nữ nên trong vấn đề tình cảm nam nữ thường tỏ ra kín đáo, e dè nhưng lại thâm trầm đến tha thiết:


“Ngọn lang tía, ngọn sam cũng tía
Ngọn lang giâm, ngọn mía cũng giâm
Ơi người, ái hữu tình thâm
Nắng dun lá liễu, mưa dầm đọt lê”.


- Ngược lại, người phụ nữ Chămpa còn nặng về chế độ mẫu hệ nên trong việc biểu lộ tình cảm giữa nam nữ thường tỏ ra bộc bạch, cỡi mở và nồng cháy mãnh liệt:


“Thiếp xa chàng, hái dâu quên giỏ
Làm cỏ quên liềm
Xuống sông, gánh nước hũ chìm gióng trôi
Về nhà, than đứng thở ngồi
Đập tay xuống chiếu, thôi rồi còn chi!
Bộ nút vàng, xa áo cổ y
Chàng mà xa thiếp tài chi không phiền
Hội ni, nhứt chết, nhì điên
Chàng sầu tư chín tháng, thiếp ưu phiền ngàn năm!...”.

Đỗ Xuân Quang