Về với đời thường

10:04 03/04/2019

(NQPN) Thực tình mà nói tôi biết được tên tuổi của ông đã khá lâu, gần một nửa thời gian trong hơn 40 năm làm công dân của TP Đà Lạt, tức là tính từ cuối năm 1976 cho đến nay. Đã là công dân của một vùng, miền nào đó tất phải biết người lãnh đạo quản lý của địa phương. Đó là chuyện thường tình. Huống gì, ông là người giữ cương vị Bí thư Thành uỷ gần hai nhiệm kỳ trước khi được điều động sang làm Trưởng ban Dân vận của Tỉnh ủy Lâm Đồng từ cuối năm 2007 cho đến khi chính thức nghỉ hưu vào cuối năm 2015. Người mà tôi muốn nhắc đến chính là ông Hà Phước Toản, người con của quê hương Điện Bàn (Quảng Nam), vào định cư ở thành phố ngàn hoa từ cuối những năm 1950. Ông rời chính trường như một quan chức tầm cỡ, nhưng khi về lại với đời thường, ông sống vui với tuổi già!

Ông HÀ PHƯỚC TOẢN.

Tôi biết nhiều về ông từ thời điểm chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ, từ sau Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Đà Lạt lần thứ VIII vào tháng 11 năm 2000. Đại hội đã đề ra những mục tiêu phương hướng cho Đà Lạt phấn đấu trong giai đoạn 5 năm 2000 – 2005 để xây dựng Đà Lạt thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng của cả vùng, cả nước và quốc tế; trung tâm giáo dục đào tạo, huấn luyện và nghiên cứu khoa học của cả nước; trung tâm sản xuất rau, hoa đặc sản phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu; xây dựng Đà Lạt thành một đô thị sạch, đẹp và văn minh. Đó là những ý tưởng tham vọng lớn và phải có một quyết tâm chính trị rất cao mới thực hiện được. Chính tại Đại hội này ông được bầu làm Bí thư Thành ủy với nhiệm vụ nặng nề là lãnh đạo toàn thành phố thực hiện mục tiêu đề ra.

Chắc chắn rằng, trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông đã bỏ nhiều công sức, nhiệt huyết để hoàn thành trách nhiệm của mình, nên sang Đại hội IX của Đảng bộ Thành phố vào tháng 9/2005, ông tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Bí thư Thành ủy cho nhiệm kỳ tiếp theo, trước khi được điều động sang làm Trưởng ban Dân vận của Tỉnh ủy Lâm Đồng từ cuối năm 2007 cho đến khi chính thức nghỉ hưu vào cuối năm 2015.

Vào giữa tháng bảy năm nay, ông là một trong 44 cá nhân tiêu biểu trong các phong trào thi đua yêu nước, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của Đà Lạt do Ban Tuyên giáo Thành ủy tuyên dương vì có thành tích xuất sắc trong phong trào người cao tuổi làm kinh tế giỏi giai đoạn 2014 - 2018. Tôi mạnh dạn đến gặp ông và đề xuất thực hiện bài viết này. Sau một hồi từ chối không xong, cuối cùng ông cũng vui vẻ nhận lời. Đưa tôi xuống thăm khu đất khoảng một hecta ở vùng ngoại thành thuộc thôn Đất Làng, xã Xuân Trường, ông Toản cho biết, đây là khu đất ông đăng ký với lâm nghiệp tham gia thực hiện Dự án Dịch vụ bảo vệ rừng của địa phương cách nay gần 5 năm vào lúc ông chuẩn bị nghỉ hưu. Khi tiếp nhận lô đất rừng này còn rất ít cây thông, dôi dư khá nhiều chỗ trống có nguy cơ bị các hộ dân tiếp tục lấn chiếm chặt thông, mở rộng đất sản xuất cho mình.

Ông HÀ PHƯỚC TOẢN được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Là người có trọng trách với Đà Lạt khi còn đương chức ông luôn trăn trở với ý nghĩ làm sao để hạn chế, ngăn chặn nạn phá rừng. Càng suy nghĩ, ông càng nhận ra tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển kinh tế dưới tán rừng. Thổ nhưỡng và điều kiện thời tiết khí hậu ở Xuân Trường rất thích hợp cho việc trồng trà, cà phê giống Arabica và một số loại cây ăn trái như hồng, bơ. Lâu nay người nông dân địa phương chỉ quen với việc trồng trọt các loại cây này trên đất trống. Ông đã làm cái việc “động trời” là bỏ ra 300 triệu đồng dọn dẹp lô đất rừng có thông, trồng cà phê giống Abarica trên các luống đất vun theo đường đồng mức, giữ nguyên những cây thông vốn có, trồng dặm vào những chỗ trống gần 400 cây thân gỗ Kim ngân hoa, chỉ dùng độc một loại phân hữu cơ để bón cây và mỗi năm bón làm 4 đợt. Sau hai năm ông thu hoạch vụ đầu cà phê. Năng suất không cao nhưng khi pha chế để uống có cảm nhận chất lượng ngon hơn. Năm ngoái đã là vụ thứ ba. Tính ra ngoài vốn đầu tư ban đầu, mỗi năm ông mất thêm 40 triệu cho việc chăm bón. Bù lại mỗi vụ ông bán sản phẩm thu về được 80 triệu đồng. Nếu cứ suôn sẻ như vậy có lẽ chỉ 8 năm sau là ông thu hồi lại vốn, tiếp nữa là có lãi ròng.

Ông HÀ PHƯỚC TOẢN nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.

Vừa nói chuyện với tôi, ông vừa cầm cuốc xới cỏ quanh những gốc cà phê. Ông làm việc như một người nông dân thực thụ đã là bản chất và truyền thống của gia đình. Nói đến đây, ông dừng lại, mắt hướng về nơi xa xăm. Theo ông Toản, ông sinh ra trong một gia đình nghèo khó quê ở Điện Bàn, Quảng Nam mà lao động để kiếm sống là làm thuê, làm mướn. Cũng vì thế mà vào giữa những năm 50 của thế kỷ trước, bố của ông đã vào Đà Lạt làm thuê. Hai năm sau đó, lúc ông khoảng 5 tuổi, bố ông đã đón mẹ con ông vào sống cùng ở ngay cái làng có tên gọi là Xuân Sơn thuộc xã Xuân Trường hiện nay của Đà Lạt.

Ông nhớ rõ ngày ấy đi chân đất, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm vậy mà ngoài việc làm công mở mang đồn điền chè cho Sở Chè, bố mẹ ông đã bỏ bao công sức để khai phá đất hoang, tự tạo cho mình chút ít diện tích để trồng rau, trồng hoa. Nhờ vậy ông có điều kiện ăn học. Lúc đầu học ở nhà riêng của thầy, dần dần vào trường làng rồi sau đó lên Đà Lạt học một mạch cho đến khi tốt nghiệp Tú tài vào năm 1972. Chỗ học cách chỗ ở của gia đình hơn hai chục cây số, đi lại bằng phương tiện thô sơ khá vất vả nhưng cứ đến ngày nghỉ, ngày lễ là tức tốc tranh thủ về nhà giúp bố mẹ chăm sóc rau hoa. Việc ông thường làm buổi sáng là đi gánh khoảng 200 gánh nước tưới cây, mỗi gánh là hai thùng chứa nước có vòi hoa sen nặng khoảng 40 kí lại phải đi đường dốc lên đồi xuống vực. Ông đã kiên trì làm việc này trong vòng 4 năm ngay cả khi đã là sinh viên học cao đẳng sư phạm ở Đà Lạt. Thế nên, chẳng lạ gì khi đã là người cán bộ Nhà nước trong hệ thống công quyền ông vẫn duy trì niềm say mê lao động chân tay.

Khi tìm hiểu nguyên do từ đâu mà ông lại đứng ra sáng lập Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia của tỉnh Lâm Đồng, được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội ngay khi Hội được chuẩn y thành lập vào năm 2016, tôi mới được ông cho biết ngọn ngành. Thì ra ông đã có gần 4 năm từ cuối 1985 cho đến hết 1988 là thành viên Đoàn chuyên gia Việt Nam công tác ở đất bạn Campuchia. Ông làm chuyên gia cho tỉnh Xiêm Riệp về công tác quần chúng. Ông Toản tâm sự là ông học tiếng Campuchia khá nhanh do đó hầu như vượt qua hàng rào ngôn ngữ và giao dịch với bạn khá thuận lợi. Vào những năm đó tình hình an ninh của đất nước Chùa Tháp chưa ổn định, tàn tích an ninh của thế lực Pôn Pốt vẫn còn, thậm chí chúng còn treo thưởng cho những ai hãm hại, giết chết chuyên gia Việt Nam. Trong lòng dân, trong vòng tay bè bạn, ông Toản và các thành viên của mình hoàn thành vẻ vang trách nhiệm, sứ mạng được giao phó. Sau khi kết thúc nhiệm vụ, vào năm 1989 ông Toản được Chủ tịch Campuchia - Heng Somrin trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba.

Ông HÀ PHƯỚC TOẢN cùng với BCH Hội đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng tại TP. HCM về trao tặng quà cho các Mẹ VNAH tại quê nhà Quảng Nam - Đà Nẵng.

Thời gian được làm quen với ông Toản còn quá ngắn, chắc chắn là còn nhiều chuyện về ông mà tôi chưa được biết. Tuy nhiên qua những thông tin chia sẻ cởi mở của ông, tôi đã có thể tạo dựng cho mình hình ảnh hiếm hoi của một quan chức sau khi rời chính trường đã về lại đời thường với cách sống ung dung tự tại như thế nào. Đó thực sự là một hình ảnh đẹp về một con người mà tôi cảm phục và mến mộ!

Mộng Sinh