Tân Sửu 1301 - Một năm đáng nhớ của xứ Quảng

20:02 10/02/2021

(NQPN) Sử cũ còn ghi: “Năm Tân Sửu 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi sang Chiêm Thành xem phong cảnh, có ước gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người đưa vàng bạc và các phương vật sang cống và xin cưới. Triều thần có nhiều người không thuận. Chế Mân lại xin dâng Châu Ô và Châu Rí để làm lễ cưới, bấy giờ Anh Tông mới quyết ý thuận gả. Đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), vua cho công chúa về Chiêm Thành. Sang năm sau (1307), vua Anh Tông thu nhận hai châu Ô, Rí (Lý), đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu rồi sai quan là Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị” (Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1958, trang 162).

Vùng đất từ huyện Triệu Phong (Quảng Trị) đến huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế) ngày nay là đất của Thuận Châu xưa còn vùng đất từ huyện Phú Lộc (Thừa Thiên – Huế) đến bờ bắc sông Thu Bồn (Quảng Nam) ngày nay là đất của Hóa Châu xưa.

Sông Thu Bồn, ranh giới Đại Việt - Chiêm Thành thời Huyền Trân về làm vợ vua Chế Mân. 

Chính vì vậy, đối với xứ Quảng (Quảng Nam - Đà Nẵng trước đây) về cơ bản chỉ có vùng đất thuộc thành phố Đà Nẵng và một nửa phía Bắc của tỉnh Quảng Nam ngày nay (thuộc thị xã Điện Bàn và huyện Đại Lộc) mới là đất của Châu Rí (Hóa Châu) ngày xưa và đó mới đúng là đất thuộc “sính lễ”, “quà tặng của tình yêu”. Phần từ Nam sông Thu Bồn đến Dốc Sỏi (ranh giới với Quảng Ngãi) là đất thuộc phủ Thăng Hoa trước đây, là đất mà cha con Hồ Quý Ly - Hồ Hán Thương lấy được sau cuộc động binh năm 1402 và sau này là Thừa tuyên Quảng Nam do Lê Thánh Tông lấy lại sau cuộc Nam chinh đẫm máu năm 1471.

Không biết có phải vì sự “thiêng liêng” của vùng đất này hay chăng mà sau này cả Hồ Quý Ly lẫn Lê Thánh Tông đều muốn dành cho nó một “đặc ân”, không sáp nhập vào vùng đất chiếm được (từ chiến tranh) thuộc lộ Thăng Hoa (nhà Hồ) và Thừa tuyên Quảng Nam (thời Lê Thánh Tông). Rẻo đất này luôn là huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong (là phần đất của 2 châu Ô, Rí hay Thuận, Hóa - đất sính lễ, từ 1307 - 1602). Mãi đến năm 1602, sau khi vượt qua đèo Hải Vân để kinh lý vùng Quảng Nam, Nguyễn Hoàng mới đem huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong “nâng lên thành phủ và nhập vào dinh Quảng Nam”.

Dựa trên những sự kiện xảy ra sau cái chết của Chế Mân, sau này nhiều người đã “suy diễn” một cách quá đáng:

“Cuộc Nam tiến êm đềm của dân tộc Việt nhen nhóm trong đầu óc của Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông khi Chế Mân ưng hỏi Huyền Trân công chúa” (Trương Bá Phát, Lịch sử cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, Tập san Sử Địa số 19, 20).

“Thời gian lưu trú của Thái Thượng hoàng tại vương quốc này kéo dài 9 tháng, có thể bên trong cái chủ đích du ngoạn tại các vùng đất thiêng, ông còn có sẵn cái ẩn ý chuẩn bị cho một đợt Nam tiến thực sự, nhưng một cách êm thấm thay vì mở đường bằng sắc máu” (Phan Du, Quảng Nam qua các thời đại, NXB Cổ Học Tùng Thư, 1974, trang 57).

Nguyên Ngọc cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng cho rằng ngày đó hai bên Việt - Chiêm phải mất 5 năm để bàn cãi về cái biên giới của Châu Rí. Nguyên Ngọc cho rằng “Các nhà thương lượng của triều Trần đã quyết ép và cuối cùng đã đòi được việc bỏ hẳn ngọn đèo ấy (đèo Hải Vân - ranh giới tự nhiên rất phù hợp cho việc chọn làm biên giới của hai nước theo cái logic thông thường) để đi tiếp luôn một mạch hơn ba mươi cây số nữa về phía Nam cho đến tận bờ bắc sông Thu Bồn” với lý do: “Rẻo đất đó không lớn nhưng có đến hai cửa biển quan trọng là Hội An và Đà Nẵng - đúng ra còn có một cửa biển thứ ba nữa là Câu Đê thời bấy giờ là cửa biển lớn - mà như lịch sử còn ghi rõ tất cả các cuộc tấn công của Chiêm Thành, một quốc gia rất mạnh về thủy quân đánh ra đất Đại Việt đều đi đường biển xuất phát từ những cửa biển lớn như thế này. Chiếm được các cửa biển này là đẩy xa hẳn mối uy hiếp quấy nhiễu của Chiêm Thành, đồng thời củng cố thế trận Bắc cự (chống lại phía Bắc bằng vũ lực) vững chắc hơn. Song còn một lý do thứ hai có thể quan trọng hơn không kém, tràn qua được phía Nam đèo Hải Vân thiết lập được ở đó một bàn đạp một căn cứ xuất phát tấn công, là điều kiện số một để tiến tới chiếm luôn cả vùng đất Quảng Nam, vùng đất quan trọng và quyết định thắng lợi cho cuộc Nam tiến” (Nguyên Ngọc, Từ Đông sang Tây, NXB Đà Nẵng, trang 154).

Đọc lại sử cũ ta thấy: Khi đám cưới giữa Chế Mân và Huyền Trân diễn ra (nói cách khác là khi bàn giao hai châu Ô, Rí) mối quan hệ giữa hai nước rất tốt. Sử ghi: “Nước Chiêm Thành đối với An Nam từ ngày nhà Trần lên làm vua, hai nước không có điều gì lôi thôi” (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, trang 162).

Đối với vua Trần Nhân Tông, ông là người có cái tâm của “Phật hoàng” và khi vân du sang Chiêm Thành đã nhường ngôi lại cho Trần Anh Tông, không còn quan tâm nhiều đến việc triều chính. Qua chuyến đi nhà vua lại nhận thấy Chế Mân là người “khả ái” và có lẽ nhà vua cũng bị “choáng ngợp” trước nền văn minh của người Chiêm nên khi hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân là thực ý, không có toan tính gì.

Còn đối với người Chiêm: “Chế Mân hẳn biết rằng so sánh tương quan lực lượng sẽ không bao giờ giữ được Ô, Rí nữa chi bằng làm thế để tăng mối hòa hiếu may ra giữ được vùng đồng bằng Quảng Ngãi trở vào trù phú hơn nhiều so với vùng Thừa Thiên, Quảng Trị” (Hồ Trung Tú, Có 500 năm như thế, NXB Đà Nẵng, 2012, trang 42).

Sự tính toán của Chế Mân xem ra là hợp lý nhưng rất tiếc là Trời không chìu người, ông mất quá sớm và Trần Anh Tông lại quá sức thương em, không vượt qua được nguyên tắc: gái “xuất giá tòng phu” của Nho giáo thời ấy. Vì vậy sau sự kiện Huyền Trân quay về Đại Việt vào năm 1307 người Chiêm đem quân chiếm lại một phần Châu Rí, đưa biên giới Việt - Chiêm ra đến tận đèo Hải Vân và nhiều lần vượt đèo ra tấn công Đại Việt.

Có lẽ ngày nay không nên suy diễn quá xa như đã dẫn ở trên sẽ làm cho vấn đề trở nên phức tạp. Cứ nghĩ như sách cũ để năm Tân Sửu 1301 là một mốc giới quan trọng của tình hữu nghị Việt – Chiêm, một mốc giới đẹp của lịch sử xứ Quảng, để một nửa lãnh thổ ở phía bờ bắc sông Thu Bồn mãi mãi là đất “sính lễ”, vùng đất hòa bình và ngọt ngào… đúng nghĩa là “quà tặng của tình yêu”!

Lê Thí